VNPT - Dấu ấn một chặng đường

VNPT - Dấu ấn một chặng đường

Những dấu mốc quan trọng

Kế thừa truyền thống lịch sử gần 65 năm xây dựng và phát triển của ngành bưu điện Việt Nam, cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới, ngành bưu điện đã có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của đất nước, trong đó có vai trò quan trọng của Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam, nay là Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam, doanh nghiệp bưu chính viễn thông - công nghệ thông tin (BCVT-CNTT) chủ lực của Nhà nước.

Ngày 19-4-1995, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 249/1995/QÐ-TTg về việc thành lập Tổng công ty BCVT Việt Nam trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị dịch vụ, sản xuất, lưu thông, sự nghiệp về BCVT thuộc Tổng cục Bưu điện, nay là Bộ Thông tin và Truyền thông. Theo đó, Tổng công ty BCVT Việt Nam là một doanh nghiệp chủ lực của Nhà nước trong lĩnh vực BCVT, được tổ chức hoạt động theo mô hình các tổng công ty mạnh (Tổng công ty 91) của Nhà nước. Ngày 1-8-1995, Chính phủ ra Nghị định 51/1995/NÐ-CP phê chuẩn điều lệ tổ chức và hoạt động của VNPT. Kể từ đây, bên cạnh các nhiệm vụ công ích, VNPT đã thật sự hoạt động như một doanh nghiệp. Chỉ sau bốn năm hoạt động, năm 1999, VNPT đã phát triển được 2,5 triệu thuê bao, đưa Việt Nam trở thành một trong 30 nước có hơn hai triệu máy điện thoại. Sau khi điểm bưu điện - văn hóa xã (BÐ-VHX) triển khai từ năm 1998, VNPT đã có 3.000 điểm phục vụ bưu điện trên toàn quốc; có 7 điểm truyền in báo từ xa; 60/61 tỉnh, thành phố có báo đến trong ngày. Có 17 đơn vị công nghiệp bưu điện và liên doanh, đã sản xuất được nhiều chủng loại thiết bị phục vụ mạng lưới trong nước và xuất khẩu.

Kết thúc thắng lợi Chiến lược tăng tốc phát triển BCVT giai đoạn 1993-2000, cơ sở hạ tầng BCVT-CNTT tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng khắp, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước, bảo đảm phục vụ tốt an ninh, quốc phòng. Năm 2000, cả nước đã có ba triệu thuê bao điện thoại, là một trong 10 nước dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển mạng viễn thông. Năm 2000 cũng là năm VNPT bắt đầu thí điểm tách bưu chính - viễn thông, là bước đi sớm và cần thiết để thúc đẩy cả hai lĩnh vực này cùng phát triển mạnh hơn, hạch toán rõ giữa nhiệm vụ công ích và kinh doanh. Ðây cũng là một trong những điều kiện cơ bản để thành lập Tập đoàn BCVT sau này. Các công ty Tài chính Bưu điện, Cổ phần bảo hiểm Bưu điện, Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện, Phát triển Phần mềm... lần lượt ra đời. Năm 2001, VNPT trở thành thành viên của Hiệp hội EMS thế giới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bưu chính Việt Nam hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả khai thác, phát triển dịch vụ có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

Năm 2002, Pháp lệnh BCVT ra đời và việc thành lập Bộ BCVT đã mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển toàn diện của lĩnh vực BCVT và CNTT của Việt Nam. Tổng số thuê bao điện thoại của VNPT nâng lên 5 triệu thuê bao, đưa mật độ điện thoại của Việt Nam lên 6,26 máy/100 dân. Ðến năm 2003, mạng điện thoại của VNPT đã đạt 7 triệu thuê bao và mật độ điện thoại của cả nước đạt 8 máy/100 dân. Với con số này, VNPT về đích trước hai năm, hoàn thành chỉ tiêu phát triển điện thoại của năm 2005 mà Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX đề ra.

Luôn đi đầu trong ứng dụng, cập nhật các công nghệ hiện đại vào mạng lưới, năm 2004, VNPT chính thức khai trương mạng Thế hệ mới NGN. Ðây được coi là bước chuyển mang tính cách mạng về công nghệ đối với ngành viễn thông Việt Nam, bắt kịp xu hướng phát triển của thế giới. NGN có khả năng cung cấp đa dạng hàng loạt các dịch vụ băng rộng với chất lượng cao. Công nghệ hiện đại tạo điều kiện để VNPT tiếp tục đẩy mạnh phát triển thuê bao và mạng điện thoại của VNPT năm 2004 đạt 10 triệu thuê bao với mật độ hơn 12,7 máy/100 dân.

Năm 2005 đánh dấu một bước chuyển quan trọng đối với hoạt động của VNPT, đó là Thủ tướng phê duyệt Ðề án thí điểm xây dựng Tập đoàn BCVT Việt Nam, là cơ sở pháp lý cơ bản để VNPT chuyển đổi về tổ chức và quản lý theo hướng xây dựng trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh. VNPT có hơn 13,2 triệu thuê bao, đạt mật độ 15,8 máy/100 dân, vượt gần gấp hai lần chỉ tiêu mà Ðại hội IX của Ðảng đề ra là từ 7 đến 8 máy/100 dân. Cả nước có 17.000 điểm phục vụ BCVT, trong đó có hơn 7.500 điểm BÐ-VHX, 100% số xã trong cả nước đã có điện thoại và báo đọc trong ngày. Cuối năm 2005, hệ thống nhận diện thương hiệu mới với khẩu hiệu (slogan) "VNPT- Cuộc sống đích thực" đã được VNPT đưa vào sử dụng, khẳng định cam kết vì con người, vì cộng đồng và vì sự phát triển bền vững của đất nước.

Trên cơ sở đề án thí điểm xây dựng Tập đoàn BCVT Việt Nam, tháng 1-2006, Thủ tướng ra Quyết định về việc thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn BCVT Việt Nam và ngày 26-3-2006 Tập đoàn BCVT Việt Nam đã chính thức ra mắt và bắt đầu đi vào hoạt động. Theo đó, Tập đoàn được hình thành trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại VNPT và phát triển theo mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh đa ngành cả trong nước và quốc tế, trong đó viễn thông, CNTT và bưu chính là các ngành kinh doanh chính.

Năm 2007, sau 7 năm thí điểm và từng bước triển khai ở các địa phương, VNPT đã hoàn thành chia tách bưu chính - viễn thông trên quy mô cả nước để từ ngày 1-1-2008, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VnPost) chính thức đi vào hoạt động với việc quản lý bưu điện các tỉnh thành, sau khi tách mảng viễn thông ra dưới sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của Tập đoàn. Bước đi này đã đổi mới hiệu quả quy mô quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng hợp lý hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh của khối đơn vị viễn thông; cơ bản thay đổi hình thức tổ chức quản lý phù hợp với công nghệ mới, không phụ thuộc vào địa dư hành chính, tối ưu hóa mạng lưới, thực hiện quản lý tập trung có hiệu quả cho cả mạng dịch vụ bưu chính và mạng dịch vụ viễn thông.

Ðẩy mạnh hiện đại hóa hạ tầng thông tin liên lạc quốc gia, năm 2008, VNPT thực hiện phóng thành công và đưa vệ tinh Vinasat-1 đầu tiên của Việt Nam vào hoạt động, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện, nâng cao năng lực phủ sóng cho toàn bộ hạ tầng thông tin liên lạc của quốc gia. Vinasat-1 có dung lượng truyền dẫn hơn 10.000 kênh thoại, in-tơ-nét, truyền số liệu; hơn 120 kênh truyền hình chất lượng cao; đưa các dịch vụ viễn thông, in-tơ-nét và truyền hình đến vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo... tạo điều kiện thúc đẩy KT-XH phát triển. Năm 2008 cũng là năm ghi nhận sự thành công của VNPT trong việc mở rộng mạng lưới, phát triển thuê bao. VNPT có hơn 49 triệu thuê bao điện thoại, góp phần lớn đưa mật độ điện thoại cả nước lên gần 96 máy/100 dân; trong đó thị phần cố định của VNPT chiếm gần 71%, di động gần 52%. Số lượng thuê bao ADSL MegaVNN đạt hơn 1,31 triệu, đưa tỷ lệ dân số sử dụng in-tơ-nét cả nước lên 24,4%, trong đó VNPT chiếm gần 76% thị phần. Tập đoàn đã đi đầu (và hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp khác) trong việc đổi số điện thoại cố định thành công trên toàn quốc cho hơn 10 triệu thuê bao, góp phần tăng dung lượng kho số viễn thông quốc gia, đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngày càng cao của khách hàng.

Năm 2009, trong bối cảnh chịu tác động khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, VNPT vẫn tăng trưởng 30%, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế và thúc đẩy đà hồi phục của kinh tế đất nước. Với vai trò là một tập đoàn kinh tế chủ lực của đất nước. VNPT đã hoàn thành kế hoạch với tổng doanh thu phát sinh ước đạt 78.600 tỷ đồng, bằng 100,19% kế hoạch (tăng 30% so với năm 2008); tổng giá trị nộp ngân sách ước đạt 8.100 tỷ đồng (tăng 12% so với năm 2008).

Phát huy vai trò tập đoàn kinh tế chủ lực

Bước vào thời kỳ đổi mới, mặc dù khó khăn rất lớn nhưng với vai trò là doanh nghiệp chủ lực trong lĩnh vực BCVT - CNTT và đứng trước nhiệm vụ đổi mới và hiện đại hóa ngành bưu điện mà Ðảng và Nhà nước giao, VNPT đã đề ra những định hướng đúng đắn, những quyết sách táo bạo để phát triển.

Có thể nói, trước hết là quyết sách táo bạo đi thẳng vào công nghệ hiện đại theo hướng số hóa, bỏ qua công nghệ trung gian, lựa chọn công nghệ hiện đại, đồng bộ, tương đồng với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Bước đột phá này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc biến đổi sâu sắc, toàn diện lĩnh vực BCVT của Việt Nam từ lạc hậu lên hiện đại trong một thời gian ngắn.

Bên cạnh đó, một yếu tố không kém phần quan trọng đó là mạnh dạn phá sự bao vây, cấm vận bằng sự mềm dẻo, linh hoạt trong quan hệ quốc tế, lựa chọn đa dạng hóa các đối tác để tranh thủ nguồn vốn, công nghệ. Ðồng thời thực hiện cơ chế tự vay, tự trả; đi đầu trong chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, phá bỏ độc quyền, chấp nhận cạnh tranh để phát triển. Với những định hướng chiến lược từ thời điểm đó cho đến nay, VNPT đã hiện đại hóa và phát triển BCVT Việt Nam ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực, xây dựng VNPT thành tập đoàn kinh tế mạnh, giữ vai trò chủ lực trong lĩnh vực BCVT - CNTT, đóng góp hiệu quả cho công cuộc CNH, HÐH đất nước.

Vai trò chủ lực của VNPT được thể hiện ở việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc quốc gia hiện đại, đồng bộ và rộng khắp, đóng góp tích cực, hiệu quả vào việc thúc đẩy phát triển KT-XH, CNH, HÐH cũng như góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước. Ðến nay, VNPT là doanh nghiệp có cơ sở hạ tầng rộng lớn nhất trong các doanh nghiệp khai thác viễn thông (93% cơ sở hạ tầng của mạng điện thoại cố định; gần 60% hạ tầng mạng điện thoại di động quốc gia; 75% thị phần in-tơ-nét; 100% số xã có điện thoại của VNPT). Tổng số thuê bao của VNPT hiện có là 62.741.000 thuê bao điện thoại (tăng 90 lần so với năm 1995); 1.941.000 thuê bao in-tơ-nét, MegaVNN. VNPT cũng hiện có 18.800 điểm phục vụ BCVT - CNTT, bán kính phục vụ bình quân đã được rút ngắn xuống còn 2,41km/điểm, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng dịch vụ BCVT của người dân. Hệ thống bưu cục và điểm BÐ-VHX thường xuyên đáp ứng tốt mọi nhu cầu thông tin cho Ðảng, chính quyền các cấp và nhân dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa trên toàn quốc.

Không chỉ vậy, VNPT còn nỗ lực trong các hoạt động đóng góp vì cộng đồng. Là một trong những doanh nghiệp luôn đi đầu trong đóng góp vào lĩnh vực an sinh xã hội, trong 10 năm qua, VNPT đã đóng góp tổng số 435,559 tỷ đồng, riêng năm 2009 VNPT đã đóng góp 122 tỷ đồng cho các hoạt động an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa, từ thiện, nhân đạo, khuyến học... Ðặc biệt năm 2009, VNPT là doanh nghiệp tiên phong thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ bằng việc triển khai chương trình hỗ trợ phát triển KT-XH, giúp giảm nghèo nhanh và bền vững đối với hai huyện Mường Tè và Sìn Hồ (Lai Châu). Theo đó, VNPT đã và sẽ dành gần 200 tỷ đồng đầu tư vào các chương trình hỗ trợ phát triển giáo dục đào tạo, dạy nghề, xây dựng các công trình dân sinh, y tế, hạ tầng thông tin liên lạc... tại hai huyện này. Ngoài ra VNPT còn hỗ trợ 1.500 tỷ đồng nhằm đầu tư nâng cao năng lực hạ tầng BCVT - CNTT cho 62 huyện nghèo trên toàn quốc.

Qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với cả nước và ngành bưu điện, VNPT đã phát triển mạnh mẽ, trở thành tập đoàn đi đầu trong sự nghiệp CNH, HÐH đất nước. Danh hiệu Anh hùng Lao động mà Ðảng và Nhà nước vừa phong tặng là nguồn động viên khích lệ lớn để toàn thể lãnh đạo và CBCNV VNPT tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của ngành, xây dựng tập đoàn ngày càng vững mạnh và phát triển bền vững, tiếp tục góp phần xứng đáng vào công cuộc CNH, HÐH, phát triển đất nước.

HOÀI THU

Có thể bạn quan tâm