Vĩnh biệt Anh hùng lao động Nguyễn Văn Cường

Còn nhớ, xã Bắc Sơn trước năm 1960 nghèo lắm, luôn phải nhận cứu tế của Nhà Nước hàng chục tấn lương thực mỗi năm. Kể từ khi bí thư chi bộ cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Văn Cường dẫn đầu đoàn nông dân xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, Hà Nam lên định cư khai hoang ở đây thì đời sống khó khăn trông thấy do có những “công trình” sáng tạo đột phá của ông.

Xin giới thiệu hai công trình tiêu biểu của Anh hùng Lao động Nguyễn Văn Cường.

Công trình thứ nhất: Cải tạo đất hoang, xoá đói, làm giàu

 Năm 1964,Để phá xiềng 3 sào và 20kg thóc/ tháng”, ông dẫn đầu đoàn nông dân 50 hộ với hơn 300 khẩu từ Thanh Hà ( Hà Nam) lên xã Bắc Sơn này định cư, khai hoang, ba hộ bỏ về ngay do ngại khó khăn gian khổ. Hội ý 3 đảng viên trong chi bộ, ông đề ra khẩu hiệu đầy ý nghĩa là: bám rễ cho sâu – làm giàu trên quê hương mới" và cùng anh em tích cực đi vận động bà con ở lại. Nể lời ông trưởng đoàn, họ ở lại nhưng sản xuất vụ đầu thất bại do đất đồi thì cằn cỗi, đất ruộng thì lầy thụt, chua phèn nặng, không có thu hoạch.

Nguyễn Văn Cường tham gia đội du kích từ tấm bé. Sau khi đội trưởng Lại Văn Mão hy sinh thì anh làm đội trưởng thay thế. Đội du kích hữu ngạn sông Hồng xã Thanh Hà nổi tiếng vì những chiến công vang dội; đặt mìn tiêu diệt 3 xe tăng và 4 xe bọc thép của Pháp, diệt gọn cả một chốt án ngữ trên đường và cùng bộ đội chủ lực đánh chiếm rất nhiều đồn bốt , tiêu diệt cả một tiểu đoàn địch. Bảo tàng lịch sử quân sự hiện còn lưu giữ những chiến công này. Chủ yếu do những chiến công trên của Đội du kích, xã Thanh Hà quê hương ông đã được Nhà Nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND; khi ấy Nguyễn Văn Cường mới 18 tuổi. Ông đã năm lần được gặp Bác Hồ.

Làng mới Thanh Sơn và  xã lại phải chờ vào gạo cứu tế của Nhà nước. Bà con họp lại đòi về quê cũ. Ông phát biểu ở chi bộ : ta đã đánh thắng giặc ngoại xâm, nhất định phải thắng giặc đói”. Với vốn kiến thức tích lũy được cùng với việc chịu khó nghiên cứu tìm tòi, ông một mình lần mò thử nghiệm, nghiên cứu và kết luận là, không được thu hoạch do đất chua phèn nặng, rồi đề ra phương pháp xử lý. Cái vóc dáng to đậm, miệng nói tay làm, và Ăn to nói lớn” nhưng “có lý có tình” của ông đã thuyết phục được bà con trụ lại. Vậy là ông “cơm đùm cơm vắt về tận quê mua vôi, lên thẳng nhà máy Supe Phốt phát Lâm Thao mua phân lân, chuyển hàng chục tấn về ga Trung Giã. Dân cả xã Bắc Sơn kìn kìn vận chuyển vôi và phân Lân từ ga về bón ruộng. Để có sức kéo, ông phải lặn lội tìm mua chịu cho mỗi hộ một con trâu, bò, được 85 con tất cả, vậy là đủ: sức kéo. Đất mới, vôi, lân và phân hữu cơ bón ruộng đã cho làng một vụ bội thu. Công thức thật đơn giản nhưng hiệu quả đã được ông áp dụng: vôi – lân – phân hữu cơ khác đã làm cho  xã Bắc Sơn thay đổi : từ một xã phải nhận cứu tế, đã vươn lên đủ ăn lại còn nộp nghĩa vụ cho Nhà nước 200 tấn thóc mỗi năm, thiết thực đóng góp vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi. Một kỳ tích khi ấy.

Ông đã phát huy sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, dày công khảo sát, thiết kế, rồi giải thích thuyết phục từ lãnh đạo đến nhân dân để cùng nhất trí xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Chỉ tính từ 1966 đến 1976, ông đã chỉ huy xây dựng được 15 hồ chứa với trên 2 triệu 600 nghìn mét khối nước, đảm bảo tưới nước cho toàn xã, xây dựng hệ thống mương nước tự chảy cho ruộng đất chủ yếu của xã. Xã Bắc Sơn từ chỗ không có lúa chiêm, đã có thể cấy được trên 1000 mẫu, chính thức giải quyết dứt điểm được khâu lương thực, từng bước vươn lên làm giàu. Giai đoạn này, ông được giao giữ nhiều trọng trách của xã Bắc Sơn như : Bí thư chi bộ thôn kiêm chủ nhiệm HTX nông nghiệp Lương Hội, Phó chủ nhiệm kiêm trưởng ban kiến thiết HTX nông nghiệp toàn xã Bắc Sơn, Trưởng ban tổ chức, trưởng khối dân vận, phó chủ tịch uỷ ban MTTQVN xã, cuối đời và lâu nhất là chủ tịch hội làm vườn của xã.

Những cố gắng trên của ông thật sự là “ công trình kinh tế - để đời”, nó giúp cho Bắc Sơn lột xác đi lên, theo thời gian ngày càng giàu mạnh.

Công trình thứ hai: VRAC

Nói đến việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước thì ai cũng có thể nói được, như chủ trương xây dựng kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu, nông nghiệp là mặt trận chính”  và “ Phủ xanh đất trống đồi núi trọc là nhiệm vụ có tầm quan trọng chiến lược vô cùng quan trọng”... nhưng việc thực hiện nó thì mới cam go và nan giải. Ngay từ tháng 1-1964 mới đặt chân lên quê mới Bắc Sơn này, trưởng đoàn Nguyễn Văn Cường đã được xã bàn giao ngay cho trên 500 ha đất núi trọc, 500 ha đất đồi trọc và 100 ha ruộng hoang lầy thụt,  cây không phát triển được. Chính dân gốc ở đây cũng không biết xoay xở ra sao và phải chịu mãi cảnh nghèo.

Ai trong chúng ta cũng đã ít nhất một lần hưởng ứng Tết trồng cây, cũng vác cuốc, xà beng lên đồi theo phong trào, nhưng làm ào ào rồi bỏ đấy, không biết có ai xắn tay đào được một hố hẳn hoi với đường kính khoảng 1m hay 0,7m sâu 1m ở ngay chính cái đồi đá sỏi ấy. Đào một hố thôi cũng không ít gian nan, mồ hôi tuôn ra như tắm, tay thì phồng rộp, đau rát vô cùng; người không quen lao động chân tay như tôi, như chị, như anh thì  làm cật lực cả ngày may ra mới hoàn thành một hố, nếu vướng đá ngầm thì chưa chắc đã xong...

Vậy mà Nguyễn Văn Cường đã âm thầm chịu đựng mọi gian nan, cùng với vợ và các con đã ra công khai khẩn đất hoang lầy thụt và sỏi đá gãy cả lưỡi cuốc, cày, cần mẫn tháng ngày, cải tạo được 21ha, trồng đến 55 ngàn cây lấy gỗ trong 14 ha núi đồi, trên 4000 cây ăn quả các loại trong 4ha đất hoang làm vườn, hơn 3 ha chè xanh lấy búp ( có 1 ha trồng dưới tán rừng và cây ăn quả), 1,5 ha ở dưới chân đồi đào rất nhiều ao thả cá và nuôi tôm càng xanh, 1 ha trồng lúa màu nay đã thu hẹp còn 0,7ha... Mồ hôi và nước mắt gia đình ông đổ ra không uổng : 21ha đất hoang đá sỏi đã biến thành vườn – rừng – nông – lâm kết hợp trù phú, ai đến cũng mê mẩn không muốn về. Nhưng không phải là cứ đào hố cắm cây xuống đã thành vườn rừng. Để cho cây phát triển, ông đã dốc sức đào một hệ thống hào giữ nước mưa ở chung quanh đồi từ đỉnh đến tận chân, mưa đến 300ml,  nước mưa cũng không có chảy xuống chân đồi . Chưa hết, ông đã chuyển trên 4000 tấn bùn, phân hữu cơ và đất phù sa lên bón cho cây tốt tươi, thực sự biến đất đồi trơ sỏi đá thành khu vườn rừng trù phú cho hiệu quả cao, thu hoạch hàng năm bình quân trên 200 triệu đồng (con số ước tính vì giá cả nông sản quá bấp bênh). Rừng, vườn, ao, chuồng đã cho hiệu quả rất cao.

Ngày ông Nguyễn Hữu Ngạn nguyên chủ tịch UBND xã còn là trưởng ban VHTT xã, tôi theo ông lên khu đồi mới trồng cây rộng mênh mông, ông khoát tay nói: Tôi học tập ông Cường đấy ; tuy hơi muộn nhưng còn kịp chán, khu đồi này sẽ cho tôi nguồn lợi không thể tính được”. Nay con của ông đã là chủ tịch xã nhà, gia đình ông thuộc loại giàu có vào loại nhất của xã  Bắc Sơn từ việc học tập mô hình hiệu quả ấy. Toàn xã Bắc Sơn đã có mấy chục hộ noi gương ông làm trang trại. Các hộ này đã biết kết hợp rất tốt thế mạnh của hệ thống rừng - vườn – ao – chuồng- nông – lâm kết hợp để đem lại lợi ích cho gia đình, làm giàu cho quê hương. Từng trang trại to bé khác nhau cho thu nhập hàng năm hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng. Những gia đình làm với quy mô nhỏ hơn thì có rất nhiều. Toàn xã có đến 210 ha đất trồng cây ăn quả, 900 ha đất rừng trồng như cây Thông, Keo, Xà Cừ và đặc biệt là cây Acasia ( keo tai tượng), rễ có nốt sần như cây họ Đậu tự tổng hợp đạm khí trời làm giàu cho đất và gỗ rất tốt, dùng để dóng đồ. Nổi tiếng nhất và cho hiệu quả cao lại là rừng Acasia của ông Cường, Năm 2003 ông đã  thu hoạch tới 1,6 tấn mật ong từ rừng trồng đem lại.

Từ đó xã Bắc Sơn của ông đã thay đổi hẳn, số hộ giàu có, khá giả rất nhiều, tỷ lệ nghèo giảm xuống còn rất ít không đáng kể, riêng làng kinh tế mới Thanh Sơn của ông có 150 hộ, số hộ khá và giàu đã lên đến 75%, không có hộ nào nghèo. Có lẽ trước đây ai mơ mộng nhất cũng không dám nghĩ tới vì đoàn khai hoang của ông từ quê Thanh Hà lên đây nghèo lắm.

Luôn trăn trở vì quê mới, ông là người đầu tiên đã đem cây chè về Bắc Sơn trồng thử. Thấy được ông đã vận động mọi người cùng trồng, cho đến nay xã đã có tới mấy trăm  ha đất trồng chè, trung tâm xã có hẳn một xưởng sơ chế chè mỗi ngày tiêu thụ 10 tấn chè búp tươi, bán ra hàng năm 300 tấn, bà con sản xuất bán riêng lẻ cũng hơn 200 tấn cả xã. Chè đã thành cây làm giàu của Bắc Sơn.

Không dừng lại, ông đã trăn trở suy tính và sản xuất chè sạch không có thuốc trừ sâu cung cấp cho thị trường, chè sạch của ông được tuyên truyền rộng rãi khắp nơi. Để công trình VACR thêm hiệu quả cao, ông đã áp dụng khoa học kỹ thuật nuôi thành công con tôm càng xanh trên vùng núi Bắc Sơn này, mỗi vụ gia đình ông thu hoạch đến 6 tạ tôm càng xanh ( giá hiện nay từ 80 000 đến 100 000 đ/kg) và 1 tấn cá, (trước đó tôm chỉ được nuôi ở vùng nước lợ). Mấy chục hộ khác trong xã cũng đang nuôi tôm càng xanh, vậy là dân đã có thêm một nghề mới. Công trình VRAC của ông đã làm cho quê hương giàu lên nhanh chóng.

Chuyện về ông nhiều lắm, kể không hết. Là đại biểu HĐND thành phố Hà Nội khoá XII (1999-2004), ông luôn lắng nghe ý kiến của cử tri, kịp thời giúp chính quyền thành phố định hướng đúng trong kế hoạch phát triển thủ đô. Ông đã vinh dự được nhận bằng khen của Quốc hội. Tuy đã ngoài 70 tuổi, ông vẫn tiếp tục suy nghĩ tìm tòi, làm bất cứ việc gì có lợi cho quê  hương Bắc Sơn, nơi đã nâng ông trở thành người Anh hùng của thời đổi mới.

Viết xong những dòng này khi biết tin ông đã mắc chứng bệnh hiểm nghèo không qua khỏi và ra đi, thật không thể ngờ đây lại là bài viết cuối, là nén hương thơm tưởng nhớ ông, một con người luôn nặng tình với đất, một Anh hùng đã từ đất đi lên.  Hai quê của ông đều là đơn vị Anh hùng LLVTND, nay đã đổi thay, chốn cực lạc xin ông hãy yên lòng.

                                                                                    Nguyễn Toàn

Hội nghị quân sự  Trung Giã, Sóc Sơn, Hà Nội

                                       ---------------

Xin đọc các bài: “Làm giàu trên đất nghèo Sóc Sơn” - Phụ trang Văn hóa - trí tuệ - doanh nhân / báo Diễn đàn doanh nghiệp số ra ngày 29-3-2001- Hoàng Nam

- “Người vác sông lên núi – biến sỏi đá thành vàng” - đăng báo Nông thôn ngày nay ngày 29-9-2000 – Minh Tâm.

- Người làm chè sạch ở Sóc Sơn ” - Tạp chí Khoa học và Tổ quốc số 10 – ngày 20-5-2003, Hà Nội mới 6-8-2003, Bản tin Hội nông dân tháng 10-2003 – Nguyễn Toàn.

- “Người nuôi tôm càng xanh trên vùng núi” - Tạp chí Nông thôn mới số ra tháng 12-2002 – Nguyễn Toàn.

- “Du kích năm lần gặp Bác trở thành Anh hùng” - báo Quân đội nhân dân 26-2-2003, Lao động và xã hội 25-2-2003.

Có thể bạn quan tâm