Hôm qua (27-2), Hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về chính sách ứng phó với xu hướng giảm sinh diễn ra tại Hà Nội đưa ra những bài học giúp Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề liên quan dân số, giúp việc xây dựng và thực hiện luật Dân số phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
GS. Youngtae Cho (Trường Y tế Công cộng, trường Đại học Quốc gia Seoul) cho biết, hiện nay tổng tỷ suất sinh của Hàn Quốc ở mức rất thấp 1,3 con/ phụ nữ vào năm 2012. Mức sinh giảm quá thấp đe dọa sự ổn định xã hội, tăng trưởng kinh tế, thiếu hụt lao động và ảnh hưởng đến việc chăm sóc cho người già.
GS. Youngtae Cho cũng cho rằng, nếu được quay lại 20 năm về trước vào thập niên 1990, Hàn Quốc sẽ phải điều chỉnh cho phù hợp hơn. Hàn Quốc sẽ xây dựng một xã hội dựa trên nền tảng gia đình nhằm thúc đẩy tỷ lệ sinh và quan trọng hơn là tạo nên sự cân bằng giữa gia đình và giá trị lao động.
“Vào thời điểm những năm 90, số lượng lao động nữ được đào tạo tăng cao, cân bằng với nam giới, khi mà sự tham gia của phụ nữ vào thị trường lao động tăng lên, họ càng đẻ ít, thực tế này hiện vẫn sẽ tiếp tục kéo dài trong tương lai, và chính vì vậy sự cân bằng giữa gia đình và giá trị lao động cũng hết sức quan trọng đối với phụ nữ” – GS. Youngtae Cho nói.
GS. Gavin W. Jones - Đại học Quốc gia Singapore cho biết, kể từ năm 1975, Singapore đã chịu nhiều thách thức của việc giảm sinh 38 năm nay. Đã có rất nhiều chính sách khuyến sinh được đưa ra nhằm nâng tỷ lệ này lên, và đã có thành công nhất định khi tỷ lệ sinh đã đạt mức khoảng 1, 2 – 1,3%.
GS. Gavin W. Jone cũng thừa nhận chính sách giảm sinh của Singapore đã kéo dài quá lâu kể cả sau khi tỷ lệ sinh đã giảm. Bởi vì những chính sách này cần một khoảng thời gian dài để điều chỉnh.
Thái Lan là nước đang phải đối mặt với xu hướng giảm sinh, mức sinh sụt giảm xuống 1,62 con/ phụ nữ vào giai đoạn 2005 – 2010. Các gia đình Thái Lan đang có xu hướng chuyển từ mô hình sống chung sang quy mô gia đình nhỏ hơn; tỷ lệ li dị tăng và gia đình không có con đang ngày càng trở nên phổ biến.
Theo bà Suwanee Khamman – Phó Tổng thư ký, Ban phát triển Kinh tế và Xã hội quốc gia Thái Lan, Thái Lan đang tìm cách ngăn chặn xu hướng giảm sinh và thiếu hụt lao động trong tương lai gần. Chính phủ Thái Lan vừa phê duyệt Kế hoạch Dân số nhằm bảo đảm tất cả công dân Thái Lan được sinh ra có chất lượng và được hỗ trợ trong tất cả các giai đoạn trong cuộc sống, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con để tạo nên hoặc mở rộng quy mô gia đình và duy trì mức sinh.
Việt Nam nên “nới lỏng” chính sách giảm sinh
TS Dương Quốc Trọng, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình cho biết, trong 50 năm qua, số con trung bình của người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 6,3 (1961) xuống còn hai con (2010), và hiện nay là 1,99 (2011). Do mức sinh giảm và tuổi thọ tăng cao, cấu trúc dân số của Việt Nam đã và đang thay đổi trong thời gian tới.
Tuy nhiên, ông Trọng cho rằng, thành quả đó cũng tạo ra khó khăn so với giai đoạn trước. Do Việt Nam đã làm tốt công tác giảm sinh, nên tỷ lệ số trẻ em sinh ra đã giảm rõ rệt sau 20 năm, đặc biệt là trong 10 năm qua. Số trẻ em trước đây trong thời kỳ tăng sinh đến nay đã bước vào độ tuổi lao động và nếu cứ tiếp tục giảm sinh Việt Nam sẽ đối mặt với vấn đề thiếu hụt lao động và già hoá dân số.
Bên cạnh đó, tính chung trong cả nước, tổng tỷ suất sinh là hai con nhưng còn sự khác nhau rõ rệt giữa các vùng miền. Chẳng hạn như Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam bộ hiện nay mức sinh đã ở xung quanh mức 1,5-1,6 con/ phụ nữ. Trong khi đó, những tỉnh còn khó khăn ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tỷ suất sinh còn rất cao, gấp đôi so với các tỉnh khác.
GS. Gavin W. Jones cho rằng, ở Việt Nam mức sinh hiện nay xấp xỉ mức sinh thay thế. Lý tưởng nhất là duy trì mức sinh ở mức này. Vì vậy, Việt Nam nên hướng tới các chính sách thuận lợi hơn cho cả cha mẹ để có thể kết hợp vừa nuôi con và vừa tham gia vào lực lượng lao động. Việt Nam cũng cần có các chính sách về thị trường lao động và giáo dục nhằm bảo đảm khi số lao động trẻ giảm xuống vẫn có thẻ gia tăng năng suất lao động, lập kế hoạch sớm nhằm bảo đảm nhu cầu hỗ trợ thu nhập của người cao tuổi.
Bà Mandeep K. O’Brien, Quyền trưởng Quyền Đại diện UNFPA tại Việt Nam, khuyến nghị, trước hết cần phải có thêm nhiều nỗ lực hơn nữa để tập trung vào giải quyết những nhu cầu chưa được đáp ứng bằng việc bảo đảm tiếp cận phổ cập tới sức khoẻ sinh sản và tình dục toàn diện và có chất lượng, đặc biệt là ở những vùng xa, và những dân tộc thiểu số những nhóm dân số có trình độ học vấn thấp. Việc này, khi đó sẽ thu hẹp khoảng cách giữa các vùng và các nhóm dân tộc trong một số các chỉ số phát triển liên quan.
Việt Nam đang trải qua thời kỳ chuyển đổi nhân khẩu học duy nhất trong lịch sử; nhóm dân số trẻ đông đảo; nhóm dân số cao tuổi đang tăng cao và mất cân bằng giới tính khi sinh. Chính vì vậy, Luật Dân số sắp tới phải giải quyết các cơ hội và thách thức của việc chuyển đổi nhân khẩu học duy nhất này nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người. Cần phải áp dụng cách tiếp cận toàn diện đối với sự chuyển đổi nhân khẩu học này, đó là cách tiếp cận hướng tới sự phát triển bền vững và theo nguyên tắc tự nguyện và dựa trên quyền.
Theo Giáo sư Nguyễn Đình Cử, Viện Dân số và các vấn đề xã hội, đã có thể nới lỏng chính sách giảm sinh, chương trình Kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) cần tập trung vào các vùng có mức sinh cao như Tây Nguyên, Tây Bắc, không “dàn trải” như 20 năm về trước. KHHGĐ cần chuyển từ bề rộng sang bề sâu, từ số lượng sang chất lượng dịch vụ, chuyển sang những chỉ tiêu phản ánh chất lượng dân số khác như tỷ lệ chết của trẻ em, an toàn cho bà mẹ khi sinh nở…
Bên cạnh đó, đẩy mạnh truyền thông để thay đổi nhận thức và thái độ xã hội đối với việc chăm sóc người cao tuổi. Nhà nước cần hỗ trợ tối đa cho quá trình đa dạng hoá các hình thức chăm sóc người cao tuổi.