Vất vả công nhân giày

Đồng lương eo hẹp

Suốt hai năm làm công nhân cho một xí nghiệp giày xuất khẩu ở huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, cô Lê Thị Phúc nhớ rất rõ tổng cộng số tiền đã gửi về quê là 4,5 triệu đồng. Tính bình quân, mỗi tháng cô dành dụm được chưa đến 200.000 đồng. Cũng chừng ấy thời gian, từ lúc vào TP Hồ Chí Minh đi làm công nhân giày, tài sản riêng duy nhất mà cô sắm được chỉ là một đôi bông tai giá 300.000 đồng. Còn lại, đồng lương của cô chỉ đủ để xoay xở cho những sinh hoạt cá nhân ở mức tối thiểu.

Ở quê của Phúc, một xã miền núi nghèo khó thuộc huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, cả gia đình năm người thân đều sống bằng nghề làm ruộng khá vất vả và cô chỉ mong sao ráng gửi được nhiều tiền về nhà. Nhưng từ đầu năm đến nay, cô đành chịu dù mới đây xí nghiệp của cô đã tăng lương trong đợt điều chỉnh mức lương tối thiểu ở các công ty có vốn nước ngoài. Chỉ là công nhân nên Phúc không biết được những chuyện khác ngoài việc cố gắng làm ra thật nhiều sản phẩm. Cô chỉ được nghe rằng xí nghiệp của mình đang vào mùa ít đơn hàng, không có hàng để làm nên tiền lương tính trên sản phẩm trở nên thấp hơn; mặt khác, dù đã được tăng lương nhưng do không còn tăng ca như trước nên thu nhập thực tế còn giảm hơn. 

Một công ty giày ở khu công nghiệp Tân Bình cũng đang đối mặt với việc bị áp thuế chống bán phá giá đồng thời cũng ở vào thời điểm ít đơn hàng. Hùng, một công nhân đã làm việc được tám năm ở công ty này, than: “Đơn giá bao nhiêu năm nay vẫn vậy. Những tháng có nhiều đơn hàng, làm tăng ca thì dễ thở hơn với thu nhập trên một triệu đồng. Còn gặp tháng thiếu đơn hàng như hiện giờ, tiền lương có khi chỉ có vài trăm ngàn đồng”. Hùng cho biết công nhân ngành giày ăn lương theo sản phẩm. Mỗi ngày, tổ trưởng nhận định mức sản phẩm phải thực hiện rồi về giao lại cho công nhân trong chuyền sản xuất. Cuối tháng, căn cứ vào số lượng thành phẩm nhân với đơn giá đã được công bố trước thì biết ngay thu nhập của mỗi người.

Đa số các công ty giày xuất khẩu trên thực tế đều là làm gia công nên bị phụ thuộc khá nhiều vào khách hàng. Với những công ty xuất khẩu giày da sang thị trường châu Âu, một mặt vừa bị cáo buộc là bán phá giá dẫn đến mất đơn hàng, mặt khác một số nhà nhập khẩu cũng nhân đó để ép giá. Giá nhân công rẻ lâu nay vẫn là lợi thế của giày xuất khẩu Việt Nam nhưng cũng chính vì vậy mà cuộc sống công nhân ngành giày rất chật vật. Hùng cho biết: “Không có gì khác biệt giữa người làm lâu năm với người mới làm, trừ trường hợp người đang thử việc. Làm tám năm như tôi hay mới làm được một năm vẫn vậy. Tất cả thu nhập đều trông chờ vào định mức sản phẩm được làm và đơn giá”. Thu nhập bình quân của Hùng hiện cũng chỉ ở mức khoảng một triệu đồng/tháng!

Cơm áo chật vật

Lê Ngọc Trang và Võ Ngọc Giàu, quê ở Tiền Giang, cùng rủ nhau lên TP Hồ Chí Minh làm công nhân giày đã được ba năm. Từ vài tháng nay, công ty không có nhiều đơn hàng để làm, hai cô được về sớm, chả bù cho năm ngoái vào mùa này phải làm đến tối mịt mới được nghỉ. Nhưng về sớm cũng chẳng biết làm gì, chỉ quanh quẩn trong dãy nhà trọ đơn sơ. Căn phòng trọ diện tích chỉ 3x4 mét bao gồm luôn cả nhà tắm và một góc bếp nên phải cơi thêm một gác lửng để có không gian sinh hoạt cho sáu người. Trang và Giàu cùng bốn công nhân nữa thuê chung một phòng dù biết chật chội nhưng như vậy sẽ nhẹ bớt phần nào tiền ở trọ.

Ba năm làm công nhân ở thành phố, không gian sống của Trang và Giàu gần như chỉ là ở xưởng giày và trong căn phòng trọ nhỏ bé này; con đường quen thuộc nhất gần như chỉ là từ nhà trọ đến xưởng giày và trở về. Trang phân bua: “Nhiều lúc cũng muốn đi chơi giải trí hay ăn uống nhưng sợ tốn tiền! Lương đứa nào cũng thấp, phải tính toán thật khéo mới có thể dành chút tiền gửi về cho gia đình”. Thu nhập của Trang bình quân một triệu đồng/tháng, chỉ riêng tiền nhà trọ, cơm nước hàng ngày đã tốn hơn phân nửa, còn lại cô để dành lo cho đứa em đang học tại TP Hồ Chí Minh.

Tương tự, Lê Thị Phúc, cô công nhân quê ở Nghệ An nói ở trên, vào TP Hồ Chí Minh đã hai năm nhưng khi được hỏi có biết trung tâm thành phố ra sao không thì cô chỉ lắc đầu. Ngày nghỉ đối với Phúc là một ngày dài lê thê, chỉ biết ăn, ngủ, đi ra đi vào hoặc tán chuyện với mấy cô bạn cùng phòng. Hai năm rồi cô không một lần về thăm quê, kể cả dịp nghỉ Tết. Phúc nói: “Quê xa quá, nếu chỉ về thăm rồi vào lại thì riêng tiền tàu xe đã mất đứt cả tháng lương”.

Dù vừa được tăng lương nhưng thu nhập bình quân của Phúc cũng chỉ vào khoảng 800.000 đồng/tháng, thấp hơn mức thu nhập khoảng 1,1 triệu đồng/tháng trong những đợt tăng ca hồi năm ngoái. Trong khi đó, giá sinh hoạt lại đang ngày càng leo thang. Cô cho biết, tiền ăn trưa đóng cho xí nghiệp hiện đã tăng lên (công nhân đóng phân nửa tiền suất cơm trưa tại xí nghiệp), lúc trước chỉ 52.000 đồng/tháng nay lên 87.000 đồng/tháng. Phúc nói: “Không tăng ca chắc không đủ sống”.

Hiện tại, Phúc đang có ý định về lại quê nhà để làm ruộng như hồi trước. Cô đã từng hy vọng vào TP Hồ Chí Minh làm công nhân để kiếm tiền nhiều hơn nhằm phụ giúp gia đình. Nhưng giờ đây Phúc đang vỡ mộng, đồng tiền kiếm được không đủ để cô sống nói chi là có dư để gửi về quê. Khó khăn là thế nhưng cô vẫn không có ý định tìm chỗ làm mới vì “cũng chỉ như con kiến leo cành đa”, gặp cành cụt thì chỉ lẩn quẩn leo ra leo vào. 

30% lao động ngành giày bị ảnh hưởng

Nhiều công ty giày Việt Nam đang ở trong tình thế khá khó khăn, mất đơn hàng hoặc bị khách hàng ép giá, thu nhập của người lao động giảm sút và nhiều công nhân phải bỏ việc.

Tại Công ty cổ phần Giày Hiệp An (TP Hồ Chí Minh), tổng số công nhân lúc bình thường là 400 người giờ chỉ còn khoảng 170 người. Ông Nguyễn Duy Thuận, Giám đốc Hiệp An, cho biết công ty cố gắng giữ chân những công nhân lâu năm, tay nghề giỏi, nhưng một số người vẫn đang phải tạm thời nghỉ chờ việc, còn lại khoảng 50% số công nhân đã bỏ việc hẳn. Bình quân lương công nhân ở công ty hiện chỉ còn 600.000 đồng/tháng, trong khi mức lương bình quân vào năm 2005 là 1,2 triệu đồng. “Thời điểm này năm ngoái, doanh thu của công ty vào khoảng hai đến ba tỷ đồng/tháng, còn hiện nay chỉ một tỷ đồng/tháng cũng không dám mơ”, ông Thuận nói.

Hiệp An là công ty chuyên sản xuất và xuất khẩu dép các loại, trong đó dép mũ da chiếm khoảng 30%. Theo ông Thuận, việc chống bán phá giá giày dép mũ da của EC không chỉ ảnh hưởng đối với giày, dép mũ da mà cả những loại dép khác không phải bằng mũ da. Một số khách hàng lâu nay đặt hàng cả dép mũ da và dép mũ vải, nay khi họ chuyển đơn hàng dép mũ da sang nước khác thì cũng chuyển luôn đơn hàng dép mũ vải để tiết kiệm chi phí.

Mặt khác, lấy lý do bị áp thuế khiến giá bán tăng, nhiều khách hàng của Hiệp An đang yêu cầu công ty phải giảm giá. Trong khi đó, do phải cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu, đặc biệt là đối với giày dép Trung Quốc, nên đơn giá của các công ty Việt Nam lâu nay vốn đã ở mức rất thấp, nay khó lòng giảm hơn nữa. Ông Thuận nói rằng, chỉ còn biết cố gắng đàm phán ở mức giá hai bên chấp nhận được để giành được đơn hàng.

Ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hội Da giày TP Hồ Chí Minh (SLA), cho biết tổng số công nhân ngành giày hiện nay khoảng 500.000 người. Nếu tính luôn cả công nhân trong các ngành phụ trợ thì con số lên đến khoảng một triệu người. Số lượng sản phẩm giày dép mũ da xuất sang thị trường châu Âu hiện chiếm 17% trong tổng số sản phẩm giày dép xuất khẩu của Việt Nam. Theo ông Kiệt, điều này có nghĩa sẽ có ít nhất 17% tổng số lao động trong ngành bị ảnh hưởng bởi vụ kiện bán phá giá giày mũ da. Còn theo tính toán của Hội Da giày Việt Nam và một số chuyên gia trong ngành, khoảng 30% lao động ngành giày đang bị ảnh hưởng bởi vụ kiện phá giá.

SLA đã đề xuất một số biện pháp giúp doanh nghiệp giảm thiệt hại từ vụ kiện, như nhanh chóng chuyển đổi sang mặt hàng khác hoặc sử dụng nguyên liệu khác, tìm kiếm thêm thị trường mới, kiên trì thương lượng với khách hàng chứ không nhận đơn hàng bằng mọi giá... Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp, các đề xuất này thực sự rất khó thực hiện. Việc chuyển đổi mặt hàng sẽ kéo theo biến động về lao động, dây chuyền sản xuất, và cần phải có thời gian. Tương tự, việc tìm kiếm thị trường mới, khách hàng mới cũng không dễ dàng làm ngay và tốn khá nhiều chi phí.

Có thể bạn quan tâm