Vẫn còn rào cản với phụ nữ trong chính sách an sinh xã hội

NDĐT- Trong thực tế, nhiều chính sách vẫn còn bất cập, khiến phụ nữ gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội.

Đây là thông tin từ hội thảo “Thúc đẩy an sinh xã hội đối với phụ nữ và trẻ em gái”, do Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) và Viện Khoa học lao động và xã hội (ILSSA) tổ chức.

PGS-TS Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội (ILSSA, thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) cho biết, tại Việt Nam, hệ thống chính sách lao động - việc làm và an sinh xã hội đã được hình thành và phát triển từ nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, nhiều chính sách vẫn còn bất cập, khiến phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội.

Cụ thể, đối với lĩnh vực bảo hiểm xã hội (BHXH), hiện nước ta có khoảng 11 triệu người tham gia BHXH, với 98% thuộc khu vực lao động chính thức. Trong khi đó, có tới 60% phụ nữ đang làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức. Như vậy phụ nữ thuộc đối tượng này được tham gia đóng BHXH không nhiều, vì hiện chưa đến 1% lao động phi chính thức tham gia. Điều này cho thấy sự tham gia của phụ nữ vào hệ thống an sinh xã hội đang bị chậm trễ.

Bà Lan Hương cũng cho rằng, bản thân chính sách của chúng ta cũng khiến phụ nữ bị thiệt thòi. Theo thiết kế, chính sách đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ quy định hai chế độ đó là hưu trí và tử tuất. Còn ba chế độ ngắn hạn rất quan trọng đối với lao động nữ là thai sản, ốm đau, tai nạn lao động thì họ không được hưởng. Chính vì vậy, đây là rào cản của chính sách đối với phụ nữ.

Trong thực tế của thị trường lao động Việt Nam, phụ nữ vẫn ở vị trí thấp, khoảng cách về tiền lương và thu nhập giữa phụ nữ và nam giới đang có sự gia tăng. Đặc biệt, trong khu vực lao động phi chính thức, quyền lợi của phụ nữ còn chưa được bảo đảm…

Lồng ghép giới trong an sinh xã hội là nền tảng để đạt được việc trao quyền đầy đủ cho phụ nữ và trẻ em gái. Thời gian qua, Chính phủ Việt Nam cũng đã khẳng định tính cần thiết của an sinh xã hội thông qua Nghị quyết số 15/NQ/CP năm 2012 đã thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong việc phát triển kinh tế đi đôi với phát triển xã hội. Tuy nhiên, theo bà Lan Hương, trong thời gian tới, biến đổi khí hậu sẽ tiếp tục tác động mạnh đến nông nghiệp và thủy sản, những ngành này lại là một trong những nguồn sinh kế chính của phụ nữ, vì vậy, việc xây dựng một hệ thống an sinh xã hội cho phụ nữ và trẻ em gái đang rất cần được chú trọng.

Khẳng định những nỗ lực của Việt Nam trong việc xóa bỏ bất bình đẳng giới, Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam Shoko Ishikawa cho rằng, định kiến giới và những thách thức về bình đẳng giới vẫn còn tồn tại. Điều này dẫn tới việc phụ nữ bị hạn chế tham gia vào thị trường lao động. Rất nhiều phụ nữ bị trả công thấp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế phi chính thức và thiếu cơ hội được tiếp cận vào hệ thống an sinh xã hội. Do đó, các chính sách và chương trình an sinh xã hội của Việt Nam cần phải được xem xét các yếu tố về giới. Những nhu cầu, mong muốn, trách nhiệm và khác biệt về vai trò giới phải được xem xét kỹ càng khi xây dựng các chương trình và chính sách về an sinh xã hội.

Có thể bạn quan tâm