Từ Ả Nương dệt lụa năm xưa
Làng Vạn Phúc cách trung tâm Hà Nội đúng 10km, nay là phường Vạn Phúc, quận Hà Đông. Xưa, làng có tên là Vạn Bảo, một làng quê trù phú ven sông Nhuệ đầy phù sa.
Lã Thị Nga, còn gọi là Ả Lã, Ả Lã Thị Nương, quê Cao Bằng (có thuyết nói ở Hàng Châu, Trung Quốc) là vợ của Cao Biền nhưng tính gần dân, có nghề canh cửi, không chịu ở trong cấm thành Đại La, thường du ngoạn các nơi, dạy dân làm ăn và dừng lại ở Vạn Bảo rồi truyền nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Và nghề lụa Hà Đông khởi từ đấy, đã hơn nghìn năm tuổi. Bà Ả Nương sinh ngày 10-8 Âm lịch, mất ngày 25 tháng Chạp. Sau khi bà mất, được thờ làm Thành hoàng làng. Đền thờ Vạn Phúc là để thờ Bà.
Sách vở ghi chép về bà Lã Thị Nga không nhiều, nhưng về Cao Biền thì còn khá đủ. Cao Biền (821-887) vốn gốc Triều Tiên, làm quan cho nhà Đường, có tài văn võ, nổi tiếng về thuật số, địa lý, được phong làm Tĩnh hải quân Tiết độ sứ coi vùng Giao Châu (Việt Nam) và Quảng Châu (Trung Quốc).
Cao Biền có công đánh dẹp quân Nam Chiếu và xây thành Đại La, được nhân dân thời đó xưng tụng là Cao Vương, được Lý Thái Tổ nhắc đến trân trọng trong Chiếu dời đô. Về việc đánh quân Nam Chiếu, Đại Việt sử ký toàn thư chép:
Quý Mùi, 863, (Đường Hàm Thông, năm thứ 4). Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Ngọ, quân Nam Chiếu đánh chiếm phủ thành. Nam Chiếu hai lần chiếm Giao Châu vừa giết vừa bắt gần 150.000 người. Khi rút lui còn lưu lại 20.000 quân, sai Tư Tấn giữ thành Giao Châu. Người Di Lão ở các khe động đều hàng phục cả. Vua Nam Chiếu cho thuộc hạ là Đoàn Tù Thiên làm Tiết độ sứ phủ Giao Châu.
Giáp Thân, 864, (Đường Hàm Thông, năm thứ 5). Mùa thu, tháng 7, vua Đường cho Cao Biền làm Đô hộ tổng quản kinh lược chiêu thảo sứ.
Ất Dậu, 865, (Đường Hàm Thông, năm thứ 6). Mùa thu, tháng 7, Cao Biền sửa quân ở trấn Hải Môn. Biền đem hơn 5.000 quân vượt biển đi trước. Tháng 9, Biền đến Nam Định, Phong Châu, quân Man gần 50.000 đương gặt lúa, Biền ập đến đánh tan, chém được bọn Trương Thuyên, thu lấy số lúa đã gặt để nuôi quân.
Bính Tuất, 866, (Đường Hàm Thông, năm thứ 7). Mùa hạ, tháng 4, Nam Chiếu sai Trương Tập giúp Tù Thiên đánh Giao Châu, cho Phạm Nật Ta làm Đô thống Giao Châu. Giám trận nhà Đường sai Vi Trọng Tể đem hơn 7.000 quân đến Phong Châu. Biền được thêm quân, tiến đánh Nam Chiếu, nhiều lần đánh tan được. Tháng ấy, Biền đánh tan quân Nam Chiếu, giết và bắt sống rất nhiều. Nam Chiếu thu quân còn sót chạy vào châu thành cố giữ. Mùa đông, tháng 10, Cao Biền vây châu thành hơn 10 ngày, người Man rất khốn quẫn. Biền đến nơi đốc thúc khích lệ tướng sĩ, lấy được thành, giết Tù Thiên và Chu Cổ Đạo là người thổ man dẫn đường cho quân Nam Chiếu, chém hơn 30.000 đầu. Quân Nam Chiếu trốn đi, Biền lại phá được hai động thổ man đã theo Nam Chiếu, giết tù trưởng. Người thổ man rủ nhau quy phục đến 17.000 người.
Lại nói về quân Nam Chiếu. Chiếu là bộ lạc. Xưa ở Vân Nam Trung Quốc có 6 chiếu: Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá. Mông Xá thu phục được 5 bộ lạc khác, thành lập một vương quốc riêng, xưng đế ở phương nam (so với Trung Quốc) nên gọi là Nam Chiếu. Thành Hoàng làng Vạn Phúc là vậy.
Còn về lịch sử cách mạng, Vạn Phúc là một an toàn khu của Trung ương ngay sát Hà Nội. Trước Cách mạng, nhà cụ Nguyễn Quang là cơ sở hoạt động của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh. Nhà cụ Ba Niệm là nơi họp của Xứ ủy Bắc Kỳ để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa; nơi đặt trụ sở của báo Cứu quốc. Nhà cụ Tý Hà là nơi làm việc của đồng chí Trường Chinh. Đặc biệt từ ngày 3 đến ngày 9-12-1946, Bác Hồ đến làm việc tại nhà ông Nguyễn Văn Dương, chủ trì Hội nghị T.Ư bàn về toàn quốc kháng chiến và viết Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến…
Về lụa, từ nhiều đời đã đi vào ca dao, tục ngữ:
- The La, lĩnh Bưởi, sồi Phùng
Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn
- Em về Vạn Phúc cùng anh
Áo lụa em mặc thêm thanh vẻ người.
Và thơ ca:
- Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng
Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông.
(Tố Hữu)
Có lẽ nổi tiếng nhất là bài thơ Áo lụa Hà Đông của nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan (1932-1998) được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ nhạc, biến áo lụa Hà Đông thành sự trinh trắng của tình yêu, thành niềm nhớ Bắc, nhớ nước khôn nguôi :
Đường Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ anh viết vẫn còn nguyên lụa trắng…
Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.
Các sản phẩm tơ tằm như lụa, là, gấm, vóc, the, lĩnh, bằng, quế, đoạn…, nhất là lụa vân (có hoa văn mây) của làng Vạn Phúc vốn rất nổi tiếng, từng được chọn may triều phục cho nhà Nguyễn.
Đến những năm 30 của thế kỷ XX, lụa Vạn Phúc có mặt tại Hội chợ Marseille và Paris. Một thời gian dài do chiến tranh, do cải tạo kinh tế tư doanh, do mất chân hàng, gần mất luôn cả các nghệ nhân giỏi và làng nghề. Đến những năm đầu đổi mới, nghề dệt lụa truyền thống dần được hồi phục. Hiện cả làng có hàng nghìn lao động chuyên dệt lụa, gần như mỗi nhà là một cửa hàng, doanh thu gần 30 tỷ đồng/ năm.
Doanh nghiệp Minh Dư
Nguyễn Thị Minh sinh năm 1958. Ông bà, bố mẹ đều là những thợ dệt giỏi. Nhưng làm ăn trong hợp tác càng ngày càng tiêu điều. Năm 1983, Minh cũng thành thợ dệt của hợp tác xã, được cái sổ gạo nhưng nhiều khi gạo cũng không có mà đong. Cả làng nghề sống trong những đợi chờ phấp phỏng của mỗi chuyến hàng. Nhà cửa cũng như con người cứ lụp xụp, lở lói không cất mặt lên nổi vì kế sinh nhai. Bố Minh đi bỏ mối thuốc lào, Minh cuộn và đi bán thuốc lá cuộn trên chiếc xe đạp cà tàng, nay đứt xích, mai buộc lốp, nước mắt nhiều khi chảy dài theo bánh xe lăn…
Ấy vậy mà Minh cứ phổng phao, cứ lớn và xinh đẹp. Ngực tràn phù sa, tóc đen óng ả. Cô như dòng sông quê mướt mát xanh, ai nhìn cũng muốn soi bóng. Xóm dưới làng trên, bao nhiêu đám dòm dỏ, xin được bỏ trầu. Toàn những con nhà khá giả. Nhưng các cụ nói vợ chồng là duyên số. Các cụ nói cấm có sai câu nào! Minh chẳng phải lòng ai, lại đi yêu Dư, một người đàn ông chết vợ, có hai con trai.
Số là, hai người trong một trung đội dân quân tự vệ. Anh Dư là bộ đội phục viên. Vợ mất sớm, gà trống nuôi con mà lúc nào Dư cũng gương mẫu, tận tụy việc làng việc nước. Phục vì đức, thương vì hoàn cảnh. Tình thương một dấy một đầy. Khi hai người quyết định lấy nhau thì gia đình phản đối quyết liệt, nhất là bà cô ruột. Cô xót cháu mơn mởn thanh tân, gào lên: “Đường quang chẳng đi mà cứ quàng vào bụi rậm”!
Nhà Dư nghèo. Hai người tự lập, ở riêng trong một căn nhà tranh vách đất với hai con riêng của chồng, lại có thêm một thằng con trai chung như phần thưởng của trời đất. Mừng thì mừng, nhưng trời sinh voi không sinh cỏ, kiếm đủ cơm cháo cho năm miệng ăn thời ấy, nhớ lại, bà chủ giàu có bây giờ vẫn còn cay trong khóe mắt.
Bỏ hợp tác, nhưng không bỏ nghề. Cầu xin bà Tổ và trời đất phù hộ, Minh về nhà mua tơ dệt nhuộm. Không có lý gì, dân thiếu vải mặc mà lụa không bán được. Cái chính là tìm ra hàng gì vừa đẹp, vừa rẻ, dễ tiêu thụ. Minh nghĩ đến sa-tanh. Thủ công lắm. Nhuộm bằng cái nồi đun củi trong vườn. Mẹ nhuộm, con phơi hì hục…
Cái thời bao cấp ấy khổ đủ đường. Thứ thì không có sản phẩm. Thứ thì có sản phẩm mà không được tiêu thụ. Cung và cầu như quan san ngàn dặm vì cái hố tập trung quan liêu, vì ngăn sông cấm chợ. Buôn vài ký cà phê , chục cân gạo cũng bị bắt hoặc xét nét hỏi han…
Có vải rồi, bán đâu? Minh phải giấu diếm mang ra chợ Đồng Xuân từ lúc gà chưa gáy sáng để tránh điều tiếng. Buôn bán lúc ấy bị coi là “con phe”, là kẻ xấu. Ra đến chợ Đồng Xuân rồi lại bị cánh Khánh trắng bảo vệ chợ bắt nạt, bắt làm luật. Khổ nhục trăm đường. Nhưng đói thì đầu gối phải bò. Và lãi lớn. Một tấm vải (55m2) bán được 300 nghìn, lãi một phần ba. Cứ thế phất dần.
Tiền nhiều, thời ấy mà buôn bán bất động sản thì ăn to. Nhưng con gái làng lụa, không bỏ lụa. Năm 1987, có bao nhiêu tiền đầu tư vào máy dệt, những chiếc máy dệt tư đầu tiên reo chạy làm sống dậy sự náo nhiệt của làng nghề, cũng mở đầu sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mặc dù hồi ấy Minh chẳng biết đến cụm từ mỹ miều này. Cô chỉ căn cứ vào thực tế.
Khi có máy dệt rồi mà vẫn nhuộm thủ công, vải vừa loang lổ, vừa chóng phai bạc, nhiều phen khóc dở, mếu dở. Để xây dựng thương hiệu, để có khách hàng tín nhiệm, lâu dài, phải nhận lại vải và đền tiền. Thế là lại dồn tiền, mua sắm máy giặt nhuộm công nghệ cao. Chất lượng vải được nâng hẳn. Lụa tơ tằm, đặc biệt là mặt hàng sa-tanh bóng của doanh nghiệp Minh Dư nổi bật hẳn lên. Khách hàng khắp các tỉnh trong nước. Cung không đủ cầu. Lại còn bán sang cả Hà Lan, Phần Lan, bán ngược sang đất nước tơ lụa.
Nói sa-tanh bóng là sự nghiệp của Minh Dư cũng phải. Đó là loại sa-tanh dày, bền màu, bóng đẹp, phong phú hoa văn, bắt kịp thị hiếu. Những tấm sa-tanh kết tinh được truyền thống và hiện đại, kỹ thuật và mỹ thuật.
Nhưng sự nghiệp chiếm nhiều tâm huyết và tình yêu của chị là việc nuôi dạy các con. Mẹ ghẻ con chồng là câu chuyện nghìn đời không mấy ấm lành. Nhưng với Minh thì khác. Chị dồn hết tình thương cho những đứa con thiếu mẹ đẻ. Hiện nay, hai cháu đều tốt nghiệp đại học, một công nghệ thông tin, một địa chính. Tình thương là cái cũng có truyền thống, có tính di truyền. Có gia đình rồi, vợ chồng con cái lại yêu thương xoắn xuýt, hiếu thảo một mực với ông bà.
Là doanh nhân thành đạt từ nghèo khó, cay cực đi lên; chị Minh coi người làm của mình như anh chị em, con cháu trong nhà. Chị chăm lo tới từng gia đình và mong mỏi họ cũng có ý chí vươn lên, có cuộc sống sung túc như mình.
Một người thợ đã nói với tôi về “bà chủ” của mình: “Cô ấy như mẹ cháu nên chúng cháu làm việc cho cô như làm việc nhà. Cô ấy chả bao giờ để cho chúng cháu thiệt”…
Doanh nghiệp Minh Dư là một doanh nghiệp nhỏ. Của cải không nhiều, tiếng tăm không lớn. Vậy mà chia tay người phụ nữ ấy, tôi cứ bâng khuâng mãi. Chị đã tìm được con đường đổi đời, con đường phát triển bền vững; giàu có giữa yêu thương.
Cuộc đời chị như một vuông lụa điều được dệt nên bởi những sợi dọc là tình yêu cha mẹ, chồng con, yêu ngôi làng nhỏ Vạn Phúc bao đời rộn tiếng xe tơ; sợi ngang là tình yêu lao động. Và chị đã được bù đắp. Trong ngôi nhà lúc nào cũng rộn lên tiếng nói cười hạnh phúc. Tôi nhìn thấy sự trắng trong, đầy tự tin, thanh thản trong tiếng cười của chị.