Nguyên nhân do xung đột tại Trung Đông khiến chi phí logistics tăng cao, doanh nghiệp thiếu vốn, giá gạo xuất khẩu giảm do sự cạnh tranh của Ấn Độ, Thái Lan... Nông dân, doanh nghiệp rất cần được hỗ trợ tiêu thụ và xuất khẩu lúa gạo.
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), tính đến 15/3/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,74 triệu tấn gạo, trị giá 826,2 triệu USD. Dù sản lượng tăng 2,3% nhưng giảm 8,7% về giá trị so với cùng kỳ do giá xuất khẩu bình quân giảm còn 477,6 USD/tấn. Philippines sau khi dỡ bỏ lệnh tạm ngừng nhập khẩu, nhanh chóng trở thành khách hàng lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm gần 56% tổng lượng gạo xuất khẩu, đạt hơn 711.000 tấn, tăng 30% so với cùng kỳ.
Trung Quốc ghi nhận mức tăng lên tới 143,7%. Nhu cầu nhập khẩu gạo của Trung Quốc tăng mạnh giúp gạo Việt Nam giảm áp lực tồn kho đầu năm. Ngoài ra, các thị trường như Malaysia và Australia cũng ghi nhận mức tăng đáng kể, lần lượt là 155% và 30,6%.
Một xu hướng đáng mừng là sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu chủng loại gạo. Gạo trắng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 60%, nhưng các dòng gạo thơm, gạo chất lượng cao (như dòng ST) đang ngày càng khẳng định vị thế với tỷ trọng gần 26%. Việc đa dạng hóa thị trường theo “Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo đến năm 2030” đang đi đúng hướng.
Gạo Việt Nam đã vượt ra khỏi các thị trường truyền thống, thâm nhập sâu hơn vào các khu vực có tiêu chuẩn cao như châu Âu và Nhật Bản. Dù khối lượng xuất khẩu vào các thị trường này chưa lớn, nhưng giá trị đơn hàng cao và việc đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe cho thấy bước tiến về chất lượng của hạt gạo Việt Nam.
Tuy nhiên, xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn do xung đột tại khu vực Trung Đông bùng phát từ cuối tháng 2/2026. Hệ lụy trực tiếp là sự đứt gãy chuỗi cung ứng và chi phí logistics tăng mạnh. Giá dầu thế giới leo thang khiến chi phí vận chuyển trong nước tăng thêm từ 20.000-30.000 đồng/tấn gạo.
Trên tuyến quốc tế, các hãng tàu liên tục điều chỉnh giá cước, thay đổi lịch trình hoặc cắt giảm chuyến đến khu vực Trung Đông để tránh rủi ro. Tình trạng thiếu container rỗng phục vụ đóng hàng số lượng lớn cũng khiến nhiều doanh nghiệp lo lắng. Xung đột không chỉ kéo dài thời gian vận chuyển thêm từ 10-15 ngày mà còn đẩy chi phí bảo hiểm và bao bì (do giá hạt nhựa tăng) lên cao.
Hệ quả là nhiều thương nhân xuất khẩu rơi vào tình cảnh “càng làm càng lỗ” với các đơn hàng ký trước đó, phải tạm hoãn giao hàng hoặc thận trọng hơn khi chốt hợp đồng mới. Điều này giải thích sự sụt giảm mạnh tại các thị trường khu vực châu Phi như Senegal (giảm 53%), Bờ Biển Ngà (giảm 68%) hay Indonesia (giảm 81%).
Về nguồn cung, năm 2026 được dự báo là năm thuận lợi về sản lượng nội địa. Diện tích gieo trồng ước đạt 7,09 triệu ha với sản lượng dự kiến 43,55 triệu tấn lúa (tăng nhẹ so với năm 2025). Lượng gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu cả năm ước khoảng 7,73 triệu tấn, trong đó sáu tháng đầu năm sẽ cung ứng khoảng hơn 4 triệu tấn.
Do xuất khẩu gặp khó, cho nên việc tiêu thụ lúa của nông dân cũng gặp nhiều trở ngại, nhiều nơi thương lái bỏ cọc hoặc mua với giá thấp hơn. Hiện giá lúa chất lượng cao, các giống lúa OM, Đài Thơm 8 chỉ khoảng 6.000 đồng/kg, thấp hơn so với vụ đông xuân 2025 nhưng khó tìm người mua.
Ông Phạm Thái Bình, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An (Cần Thơ) cho biết, các doanh nghiệp muốn thu mua thêm lúa tạm trữ nhưng đã hết hạn mức vay. Ông Bình kiến nghị Bộ Công thương và các bộ, ngành tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định tăng hạn mức cho vay mua lúa tạm trữ; trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các ngân hàng thương mại tăng hạn mức tín dụng ưu đãi cho thu mua tạm trữ lúa gạo, không tính vào hạn mức vay thông thường của doanh nghiệp.
Đồng Tháp hiện là địa phương sản xuất lúa lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ông Đặng Văn Tuấn, Phó Giám đốc Sở Công thương tỉnh Đồng Tháp kiến nghị: Chính phủ và các bộ, ngành nên “nới lỏng” quy định thanh toán chuyển khoản đối với giao dịch từ 5 triệu đồng trở lên do gây khó khăn cho hoạt động thu mua lúa.
Quy định này khiến nhiều nông dân không bán được lúa, phải đem về phơi. Bên cạnh việc nới hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp thu mua lúa tạm trữ, cần có cơ chế kiểm soát gạo nhập khẩu từ Ấn Độ và Campuchia.
Cần Thơ hiện có 35 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo trực tiếp và gia công chế biến gạo cung ứng xuất khẩu. Năm 2026, địa phương đặt mục tiêu xuất khẩu 2 triệu tấn gạo, với kim ngạch khoảng 1 tỷ USD. Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ Vương Quốc Nam kiến nghị: Các bộ, ngành hữu quan kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp, nông dân như giảm, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; tăng hạn mức tín dụng để doanh nghiệp có đủ nguồn lực tài chính thu mua lúa cho nông dân.
Về lâu dài, Chính phủ sớm hoàn thiện quy hoạch sản xuất lúa gạo theo đề án 1 triệu hec-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp và xây dựng hoàn thiện chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất, tiêu thụ lúa gạo. Chính phủ có thể tăng mua dự trữ lương thực quốc gia trong giai đoạn này; đồng thời, cần có chính sách thu mua, tạm trữ lúa hàng hóa cho nông dân để giữ giá và nâng cao giá trị hạt gạo.