Trong chặng đường 45 năm trưởng thành của Viện Khoa học Ðịa chất và Khoáng sản, những nhà khoa học địa chất tìm ra hàng loạt mỏ quặng quý cho đất nước, góp phần làm rõ thành phần kiến tạo địa chất trên toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải nước ta, lập bản đồ địa chất, khoáng sản, địa chất đô thị cho nhiều vùng và đưa ra hàng loạt công trình nghiên cứu, giúp ngành địa chất, tài nguyên môi trường nước ta ứng dụng vào thực tiễn.
Biến tiềm năng tài nguyên thành hiện thực
Ðến nay, Viện Khoa học Ðịa chất và Khoáng sản đã triển khai, thực hiện hơn mười chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Nhà nước, hơn 300 đề án góp phần làm sáng tỏ lịch sử phát triển cấu trúc địa chất lãnh thổ, điều kiện tạo thành và quy luật phân bổ khoáng sản. Nhiều vấn đề liên quan tới những loại địa chất như địa chất môi trường, tai biến, đô thị, karst hay nghiên cứu tìm ra năng lượng sạch, di sản địa chất, vật liệu mới, kinh tế địa chất, nguyên liệu khoáng... TSKH Nguyễn Linh Ngọc, Viện trưởng Viện Khoa học Ðịa chất và Khoáng sản cho biết, điểm nổi bật trong việc nghiên cứu của viện từ khi thành lập đến nay đó chính là các đề tài nghiên cứu cơ bản về khoáng sản và sinh khoáng. Do vậy đã hệ thống hóa việc đánh giá tiềm năng khoáng sản của đất nước, góp quan trọng trong đánh giá định lượng khoáng sản, sử dụng tài nguyên hợp lý. Từ đó định hướng triển khai điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản cũng như công tác tìm kiếm, thăm dò cho ngành địa chất. Nhiều công trình sinh khoáng lãnh thổ, sinh khoáng khu vực đã được triển khai như sinh khoáng Việt Nam, sinh khoáng đới Lô-Gâm, sinh khoáng vàng Việt Nam, khoáng sản than, phân loại thành hệ quặng nội sinh... Bên cạnh đó là tập trung triển khai các công trình nghiên cứu thành phần vật chất, quy luật phân bổ của các loại hình khoáng sản trên cả nước như thiếc ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Cao Bằng..., bô-xít ở Tây Nguyên và các nguyên tố hiếm đi kèm như ga-li, va-na-di; đánh giá nguồn than nâu ở dưới sâu vùng đồng bằng sông Hồng, tiềm năng than bùn Việt Nam, than mỡ vùng Tây Bắc... Viện đã có nhiều ý kiến đóng góp thiết thực cho việc đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường các dự án khai thác mỏ trên lãnh thổ Việt Nam, như bô-xít Ðác Nông, sắt Thạch Khê, than Nông Sơn, ti-tan ven biển miền trung, vật liệu xây dựng ở Thanh Hóa, Bình Ðịnh, Ðồng Nai, Vũng Tàu, Bình Phước.
Ðặc biệt, công trình nghiên cứu tài nguyên khoáng sản Việt Nam đã xác lập luận cứ khoa học, đánh giá định lượng, định hướng phát triển việc sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản trong nước đến năm 2020. Ðây là những công trình tổng hợp thông qua việc kiểm kê có hệ thống hiện trạng tiềm năng nguồn tài nguyên khoáng sản. Các luận cứ khoa học của viện góp phần định hướng việc sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản trong chiến lược phát triển công nghiệp khai khoáng nhất quán của Việt Nam từ nay đến năm 2020. Bên cạnh đó, tiềm năng địa nhiệt đã được các nhà khoa học của viện làm sáng tỏ và khoanh định các nguồn có triển vọng, bước đầu mở ra khả năng ứng dụng nguồn năng lượng sạch và sử dụng công nghệ sấy khô tại 12 nguồn xuất lộ đủ điều kiện xây dựng nhà máy phát điện thân thiện với môi trường. Ngoài ra, tiềm năng nước dưới đất đã được viện triển khai thực hiện thông qua nhiều đề tài về điều tra, đánh giá trữ lượng nước dưới đất, hiện trạng nhiễm mặn, bẩn, khả năng cung cấp nước sinh hoạt cho dải ven biển từ Móng Cái đến Hà Tiên. Năm 2010, viện đã hoàn thành đề án đánh giá nước dưới đất ở bốn tỉnh Tây Bắc và phát hiện nhiều điểm nước ngầm phục vụ đồng bào các dân tộc miền núi...
Những ý tưởng mới
Ngoài những đề tài nghiên cứu về sa khoáng và khoáng sản thì viện cũng là đơn vị đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu địa chất môi trường. Những hiệu quả trong các đề tài nghiên cứu địa chất đô thị ở Ðà Nẵng-Hội An, Hạ Long, Huế-Ðồng Hới-Ðông Hà là tiền đề để ngành địa chất hình thành và triển khai chương trình địa chất đô thị cho 60 tỉnh, thành phố, từ đó cung cấp tài liệu cơ bản cho việc xây dựng quy hoạch phát triển đô thị. Ðồng thời, hiệu quả thiết thực trong việc bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng được khẳng định thông qua các kết quả nghiên cứu, điều tra ô nhiễm môi trường như phát hiện ô nhiễm As trong nước ở Bó Sinh (Sông Mã - Sơn La); hiện trạng ô nhiễm phóng xạ do sử dụng than Nông Sơn ở Ðà Nẵng-Hội An; cảnh báo khả năng, đánh giá hiện trạng và xác định nguyên nhân tăng cao hàm lượng As, F trong nước ngầm đới khô hạn Thuận Hải; đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường đất, nước ở Hà Nội và các vùng phụ cận; xác định nguyên nhân và hiện trạng sa mạc hóa ở đới khô và bán khô Thuận Hải; đánh giá hiện trạng nhiễm bẩn, nhiễm mặn nước dưới đất của toàn bộ dải ven biển; khẳng định sự tồn tại và phân bổ của đi-ô-xin nguồn gốc chiến tranh hóa học ở Bù Gia Mập (Bình Phước)... Bên cạnh đó, viện cũng là đơn vị khởi xướng về nghiên cứu, điều tra tai biến địa chất và di sản thông qua việc triển khai thành công hàng loạt đề án tại các tỉnh miền trung từ Quảng Bình đến Phú Yên, dọc hành lang tuyến đường Hồ Chí Minh, các khu vực trọng điểm ở Ðông Bắc Bộ (Thái Nguyên, Quảng Ninh, Lạng Sơn). Theo đó đã làm rõ hiện trạng các loại tai biến địa chất chủ yếu, cảnh báo khả năng trượt lở đất đá, lũ quét ở địa bàn các tỉnh miền núi, sạt lở và bồi tụ bờ sông, biển đi kèm với việc đề xuất các biện pháp giảm thiểu thiệt hại. Trong đó, kết quả nghiên cứu dự báo tác động môi trường của hồ thủy điện Sơn La đã cung cấp tài liệu và khuyến cáo khả năng trượt lở đất đá, rò rỉ mất nước liên quan đến lòng hồ với các tuyến đập dự kiến. Ngoài ra, viện cũng đã có những nghiên cứu ban đầu về hiện trạng sụt lở liên quan đến hoạt động karst trong các thành tạo các-bô-nát ở Cam Tuyền, Cam Lộ (Quảng Trị), Quốc Oai (Hà Nội). Viện đang xây dựng trạm nghiên cứu thử nghiệm mô hình cảnh báo sớm lũ quét, trượt lở đất tại Yên Bái, từ đó nhân rộng ra toàn quốc.
Hiện nay, viện đang áp dụng thử nghiệm tổ hợp các phương pháp địa hóa-địa vật lý, nghiên cứu chi tiết các trường địa vật lý, các trường dị thường địa hóa liên quan với quặng hóa, cải tiến và nâng cao năng lực xử lý, luận giải nguồn dữ liệu có được. Nhờ đó đã dự báo được trữ lượng quặng vàng ở các đới sông Ba, Pô Kô, quặng sun-phua sông Mã, quặng đồng, vàng Tả Phời, quặng chì, kẽm ở Huổi Pao, Bản Lìm, Nà Tùm (Bắc Cạn) và Ba Xứ (Tuyên Quang)...
Theo Viện trưởng Nguyễn Linh Ngọc, tiềm năng địa nhiệt ở nước ta rất lớn. Thời gian tới, viện đang gấp rút hoàn thành cơ sở dữ liệu ban đầu cho gần 300 nguồn nước nóng ở Việt Nam. Ðáng lưu ý, viện đã khoanh định sáu điểm địa nhiệt hội đủ các tiêu chí khoa học cần thiết để điều tra chi tiết hóa phục vụ xây dựng các nhà máy nhiệt điện.
GẦN nửa thế kỷ nghiên cứu, đo đạc, xét nghiệm, phân tích, sắp tới đây, từ thành quả những ngày các nhà khoa học của viện khổ công dầm mưa, dãi nắng trên cao nguyên đá Hà Giang, viện đang gấp rút hoàn thành hồ sơ khoa học, trình UNESCO công nhận Công viên Ðịa chất Thế giới cho cao nguyên đá Ðồng Văn (Hà Giang), tiếp tục nghiên cứu mở rộng công viên địa chất cho hồ Ba Bể, quần đảo Cát Bà, Phong Nha - Kẻ Bàng, Phu Luông và nhiều địa điểm khác, mở ra triển vọng cho ngành du lịch và ngành đào tạo,nghiên cứu địa chất, khoáng sản ở nước ta.
Tuy nhiên, theo Viện trưởng Nguyễn Linh Ngọc thì việc nghiên cứu, ứng dụng các đề tài của viện vẫn đang gặp những khó khăn do kinh phí dàn trải, các số liệu phân tích định lượng trong nhiều trường hợp chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra; công tác nghiên cứu cấu trúc sâu, quặng trường, mô hình mỏ, khoáng sản ẩn, độ sâu bóc mòn cấu trúc, bóc mòn thân quặng... chưa được đẩy mạnh; các kết quả nghiên cứu cơ bản chưa kịp thời đưa vào sử dụng, phổ cập chậm và chưa được quan tâm đúng mức; quan hệ gắn kết giữa nghiên cứu cơ bản với công tác điều tra, đo vẽ bản đồ địa chất và đặc biệt là tìm kiếm, thăm dò khoáng sản chưa thường xuyên để mang lại hiệu quả cao; các loại di sản địa chất, công viên địa chất chưa được nghiên cứu đầy đủ, nghiêm túc...
Bài và ảnh: Hoàng Hùng