Thương tiếc nhà văn Mai Ngữ

Sáng sớm ngày 1-3 trên đường tới cơ quan, tôi được tin nhà văn Mai Ngữ vừa mất lúc 4 giờ 45 phút tại Viện quân y 108! Tin đến thật đột ngột và bàng hoàng bởi cách đó đúng  một ngày, tôi còn ngồi bên anh tại nhà riêng của anh ở tập thể 3B, Ông Ích Khiêm (Hà Nội). Hôm đó, tôi đến thăm anh, nhân tiện chuyển tới anh bộ tuyển tập truyện ngắn Biên giới Tây Nam cùng số tiền nhuận bút nhỏ cho truyện ngắn Biển Hồ yên tĩnh của anh in trong bộ sách mà Nhà xuất bản trẻ gửi ra. Anh tỏ ra rất vui. Và khi vợ anh, họa sĩ Trần Liên Hằng hỏi, rằng anh có nhớ tôi, anh còn nói rành mạch tên, và cả cấp chức của tôi! Ấy vậy mà giờ đây anh đã ra người thiên cổ!

Tôi và anh cùng công tác ở Văn nghệ quân đội đến hai chục năm, không dài nhưng cũng không phải là ngắn ngủi. Anh tuổi Mậu Thìn (1928) hơn tôi vừa vặn hai con giáp. Vậy mà tôi vẫn cứ coi anh như anh cả, thậm chí có lúc... như bạn, thật đúng là "gần chùa gọi bụt bằng anh".

Sống gần anh, tôi chưa bao giờ thấy anh nói to, nói dài. Cũng chưa bao giờ thấy anh vội vàng, tất bật. Trên đại hội, ở một diễn đàn lớn hoặc ở chỗ anh em trà dư tửu hậu có dăm ba người anh, vẫn đều một giọng ấy, khề khà, nhát ngừng, nhiều khi chẳng có lý do gì để run giọng vẫn cứ run run. Chừng mực, vừa phải, buồn buồn, quanh năm lúc nào cũng là như cả nghĩ, đó là anh.

Những bạn bè quen thân gọi đùa anh là Mai Đủng Đỉnh; những đồng chí quản lý, những người bạn viết có trách nhiệm đôi lần nhắc nhở anh đến họp, đến làm việc muộn, anh chỉ cười xí xóa. Triết lý quen thuộc của anh là: "Vội vàng, nhanh nhảu cũng chẳng ngồi vào được chỗ của ai", chậm chạp, muộn mằn cũng chẳng ai nỡ ngồi vào chỗ của mình". Cái "chỗ" trong cuộc đời, trong văn đàn của anh, anh xác định thật khiêm nhường, thật bình thường, khiêm nhường và bình thường nhưng là kiêu hãnh, là chẳng phải tầm thường!

Anh tên thật là Mai Trung Rạng, sinh trưởng trong một gia đình, một dòng họ đời nối đời hiển đạt. Cụ nội, ông nội, cụ ngoại, ông ngoại của anh đều đỗ đạt, đều làm tới chức tổng đốc (Tổng đốc các tỉnh lớn như: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương...), đều được vua ban hàm Thái tử thiếu bảo Đông các đại học sĩ, đều được quê hương thôn Ro Nha, Tân Tiến, An Dương và cả đất Hải Phòng đưa vào sách danh nhân. Vì  thế,  từ tấm bé anh đã được các cụ nuôi ăn học tử tế ở Hà Nội như một cậu ấm. Anh là niềm hy vọng, trông đợi của gia tộc. Vậy mà khi vừa học sang năm thứ tư bậc thành chung thì bỏ học về quê tham gia tổ chức thanh thiếu niên cách mạng. Năm 1947 tòng quân vào Trung đoàn 42, Đại đoàn 320 làm công tác tuyên huấn, làm đội trưởng Văn công, làm phóng viên báo Vệ quốc quân, báo Chiến sĩ Liên khu 3. Len lỏi, ngụp lặn khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ gian khổ và ác liệt, được kết nạp Đảng (1950), được đề bạt là cán bộ đại đội.

Hòa bình lập lại (1954), anh về làm phóng viên báo Quân đội nhân dân rồi được tăng cường sang Bộ Văn hóa làm biên tập ở xí nghiệp phim Việt Nam, ở báo Văn nghệ, ở Nhà xuất bản Văn học, ở Hội Nhà văn. Cuối năm 1966, chiến tranh chống Mỹ trở nên ác liệt, chấp hành lệnh tổng động viên từng phần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo chỉ thị của Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng đoàn văn hóa-văn nghệ đã chọn anh cùng một số nhà văn khác vào phục vụ quân đội.

Từ đó, Mai Ngữ trở thành cán bộ của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Trong một nhận xét đề ngày 20 tháng 3 năm 1987, nhà thơ Thanh Tịnh-nguyên Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ quân đội xác nhận: "Suốt thời gian phụ trách tạp chí Văn nghệ quân đội, tôi nhận thấy nhà văn Mai Ngữ đã gánh vác nhiều công việc khác nhau như tổ trưởng biên tập tổ văn xuôi, có khi vừa phụ trách phần lý luận phê bình vừa kiêm nhiệm phần thơ trên tạp chí.

Mặc dù vậy, với kinh nghiệm lâu năm làm công tác báo chí văn nghệ trong quân đội, ở cương vị nào, nhà văn Mai Ngữ cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Ngoài ra còn viết nhiều tác phẩm có giá trị về đề tài lực lượng vũ trang".

Những tác phẩm có giá trị của Mai Ngữ mà nhà thơ Thanh Tịnh nhắc tới phải kể đến Dòng sông phía trước (1972), Bầu trời và dòng sông (1966), Người lính mặc thường phục (1986), Gió nóng (1984), Thời gian (1992), Người đàn bà trên hạm tàu (1996), Trong tay bọn Angca (1980), Cành đào tàn trên xe rác (1997)... và đặc biệt là Chuyện như đùa (1988). Với Chuyện như đùa, Mai Ngữ được người đọc ví như một "Adit Nêxin Việt Nam".

Đời nhà văn Mai Ngữ là vậy, như chỉ quẩn quanh nơi đồng bằng khu Ba và 36 phố phường Hà Nội (duy chỉ có một lần xuất ngoại sang Liên Xô cũ và một chuyến ghé Biển Hồ-Cam-pu-chia cùng bộ đội, nhưng đó là một cuộc đời đầy gian nan và dông gió. Một cuộc đời, chưa đầy hai mươi tuổi đã dám làm một cuộc ra đi, dám chối bỏ cuộc sống nhung lụa để tìm đến một cuộc lên đường hùng vĩ của dân tộc-một cuộc lên đường không mấy chóng vánh, dễ dàng với một tương lai chừng rất mong manh. Một cuộc đời, buồn vui lẫn lộn, không bàn hơn thiệt được thua... Là gian nan mà cũng là kiêu hãnh! Anh Mai Ngữ đã đi xa, nhưng bài học về sự bền bỉ, về đức tính khoan dung cùng những trang sách khiêm nhường mà từng trải và cốt cách anh để lại thật đáng trân trọng, thật đáng noi theo.

Có thể bạn quan tâm