Thử thách đang đến gần

Nhập khẩu để thay thế sản xuất trong nước

Các doanh nghiệp ô tô có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang tính đến phương án nhập khẩu xe nguyên chiếc về bán ở thị trường Việt Nam thay cho việc tổ chức lắp ráp trong nước, nhất là đối với loại xe mà nếu sản xuất trong nước sẽ khó cạnh tranh về giá. Hiện tại, luật lệ Việt Nam chưa cho phép doanh nghiệp FDI thực hiện điều này, nhưng tất cả sẽ thay đổi sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tình hình này không chỉ diễn ra với ngành công nghiệp ô tô, mà với tất cả những ngành có chi phí sản xuất cao hơn mặt bằng chung của thế giới và hiện đang còn được Nhà nước bảo hộ bằng hàng rào thuế quan. Đây có lẽ cũng là tác động mạnh nhất đối với ngành công nghiệp sau khi Việt Nam gia nhập WTO.

Một trong những mặt hàng có thuế nhập khẩu cao nhất hiện nay là ô tô nguyên chiếc, với mức thuế lên đến 90% cho loại xe du lịch từ bảy chỗ ngồi trở xuống. Việt Nam đã cam kết giảm một nửa mức thuế nhập khẩu đối với một số loại xe của Mỹ như xe SUV khi thỏa thuận với Mỹ có hiệu lực hoàn toàn. Bên cạnh đó, thuế nhập linh kiện, phụ tùng cũng sẽ giảm 19% để kéo thuế suất trung bình xuống còn khoảng 13%. Ngoài ra, chính sách cấm nhập mô tô phân khối lớn (từ 175 phân khối trở lên) sẽ được bãi bỏ và sẽ giảm 56% thuế với xe nhập nguyên chiếc và 32% đối với phụ tùng, linh kiện.

Chính sách thuế quan đối với hóa chất, mỹ phẩm và dược phẩm cũng có những thay đổi lớn với cam kết cắt giảm thuế đến 80% sản phẩm nhập khẩu trong nhóm hàng này. Chẳng hạn thuế nhập khẩu hàng mỹ phẩm bình quân hiện nay là 44% và sẽ được giảm theo lộ trình xuống 17,9%. Riêng dược phẩm, sau năm năm kể từ ngày gia nhập WTO, mức thuế nhập trung bình sẽ còn lại 2,5%.

Ngoài ra, một loạt các mặt hàng khác, như: thiết bị y tế và khoa học, sản phẩm gỗ, máy móc nông nghiệp, thiết bị ngành xây dựng... như nhập khẩu chỉ phải chịu mức thuế suất khiêm tốn khoảng 0-5%. Trong đó, một số ngành hàng sẽ phải giảm thuế ngay sau khi Việt Nam vào WTO (sản phẩm gỗ, máy móc nông nghiệp và xây dựng), số khác giảm theo lộ trình 1-5 năm.

Trong thỏa thuận kết thúc đàm phán song phương vừa ký với Mỹ vào ngày 31-5-2006 vừa qua, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường bán sỉ, bán lẻ và lĩnh vực kinh doanh nhượng quyền thương hiệu cho nhà đầu tư Mỹ. Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp Mỹ phải hợp tác với đối tác trong nước thiết lập liên doanh để tiến hành hoạt động kinh doanh này. Hạn chế trên chỉ tồn tại đến hết năm 2008 và từ năm 2009 nhà đầu tư Mỹ sẽ được quyền thiết lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển cho biết, Việt Nam đã cam kết không phân biệt đối xử giữa các nước thành viên WTO. Vì vậy, các nội dung thỏa thuận về thương mại với Mỹ cũng đồng thời được áp dụng với doanh nghiệp của các nền kinh tế khác.

Lợi thế quyền nhập khẩu không còn

Gần đây, báo chí nói khá nhiều về nguy cơ hệ thống siêu thị bán lẻ trong nước để rơi thị trường vào tay các tập đoàn siêu thị nước ngoài. Dù sao, đây chỉ là nguy cơ về lâu dài, vì dù có sức mạnh tài chính nhưng trong một sớm một chiều các tập đoàn nước ngoài cũng không thể xây dựng được hệ thống riêng đủ rộng, nhất là trong điều kiện khó tìm kiếm mặt bằng tại các đô thị lớn. Đáng ngại hơn cả là các doanh nghiệp thương mại, chuyên làm đại lý nhập khẩu cho công ty nước ngoài. Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ thương mại của Việt Nam sẽ có tác động tức thời đến nhóm đối tượng này.

Cho đến nay, Việt Nam chưa cho phép doanh nghiệp FDI được nhập khẩu trực tiếp hàng hóa về bán ở thị trường nội địa. Vì thế, họ phải dựa vào doanh nghiệp trong nước để thực hiện công đoạn đưa hàng từ bên ngoài vào Việt Nam. Chẳng bao lâu nữa, vai trò trung gian này sẽ không còn cần thiết, nhất là đối với những công ty đã đầu tư vào Việt Nam theo hình thức liên doanh. Họ sẽ không cần đợi đến năm 2009 để nắm quyền nhập khẩu các sản phẩm mà lâu nay công ty tại Việt Nam chưa sản xuất.

Với những công ty thương mại đã tổ chức được hệ thống phân phối riêng đủ mạnh, tác động của việc trao cho công ty nước ngoài quyền nhập khẩu và bán lẻ trực tiếp ít nặng nề hơn, vì dù sao nhà sản xuất ở nước ngoài vẫn còn ít nhiều phụ thuộc vào mạng lưới phân phối của họ. Nhưng khả năng này chủ yếu rơi vào những công ty chưa có nhà máy hoặc chi nhánh ở Việt Nam. Trong khi đó, hầu hết các doanh nghiệp FDI sau quá trình hoạt động đã tổ chức được mạng lưới bán lẻ riêng. Trong tình huống này có lẽ các công ty phải từ bỏ vị trí nhà nhập khẩu để gia nhập hệ thống tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp nước ngoài.

Dịch vụ - không còn thời gian để chuẩn bị

Thỏa thuận với Mỹ về dịch vụ là nội dung được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm. Việt Nam đã cam kết mở cửa hầu hết ngành dịch vụ, trong đó có các lĩnh vực hiện còn rất hạn chế với nhà đầu tư nước ngoài, như: bảo hiểm phi nhân thọ, viễn thông, vận tải, phân phối hàng hóa, và dịch vụ quảng cáo.

Đối với doanh nghiệp dịch vụ trong nước, thời gian để chuẩn bị cho hội nhập hầu như không còn. Mặc dù việc gia nhập thị trường một số dịch vụ của nhà đầu tư nước ngoài phải theo lộ trình, kéo dài khoảng 3-5 năm, nhưng đây chỉ là lộ trình để xác định thời điểm được đầu tư 100% vốn trong lĩnh vực kinh doanh này.

Trong ngành viễn thông, công ty nước ngoài được sở hữu phần lớn trong các liên doanh cung cấp dịch vụ viễn thông cố định, di động thực hiện thông qua thuê đường truyền của công ty Việt Nam; dịch vụ hệ thống dữ liệu nội bộ cung cấp cho các nhà đầu tư đa quốc gia, các ứng dụng trên nền Internet; dịch vụ vệ tinh và cáp ngầm dưới biển.

Với ngành năng lượng, theo từng giai đoạn, nhà đầu tư Mỹ được tham gia cạnh tranh cung cấp dịch vụ liên quan đến khai thác dầu khí và phát triển mỏ, tư vấn quản lý, phân tích và kiểm tra kỹ thuật, sửa chữa và bảo trì thiết bị. Ngoài ra, công ty năng lượng nước ngoài được liên doanh với phía Việt Nam trong giai đoạn 3-5 năm đầu tùy loại hình dịch vụ, sau đó là được quyền thiết lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Các doanh nghiệp ngành dịch vụ chuyển phát nhanh và vận tải cũng chỉ phải cung cấp dịch vụ thông qua với đối tác Việt Nam trong năm năm đầu kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO. Sau thời hạn đó, họ được quyền đầu tư 100% vốn để kinh doanh.

Ngoài ra, hầu hết các ngành dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác, như: tư vấn, kế toán, thiết kế kiến trúc, xây dựng, dịch vụ quảng cáo và nghiên cứu thị trường, dịch vụ liên quan đến máy tính, dịch vụ về môi trường... sẽ được mở cửa ngay cho nhà đầu tư Mỹ vào thiết lập các cơ sở kinh doanh 100% vốn nước ngoài. Chỉ một số ít phải khởi đầu kinh doanh thông qua liên doanh với doanh nghiệp trong nước, nhưng thời hạn chuyển tiếp này rất ngắn (chi tiết cụ thể liên quan đến vấn đề này chưa được công bố).

Dịch vụ vốn là thế mạnh của Mỹ nói riêng và các nền kinh tế phát triển nói chung. Cho đến nay, Việt Nam mới mở cửa một cách hạn chế cho nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này. Có lẽ cũng vì thế mà khả năng cạnh tranh cũng như chất lượng của ngành dịch vụ Việt Nam, qua kết quả nghiên cứu của một số tổ chức quốc tế, khá thấp. Không phải ngẫu nhiên mà vấn đề mở cửa thị trường dịch vụ là nội dung đàm phán căng thẳng nhất giữa Việt Nam và Mỹ, vì hơn ai hết cả Chính phủ lẫn doanh nghiệp hoạt động trong ngành này đều hiểu rõ sự kém cỏi của mình. Không ít doanh nghiệp dịch vụ, trực tiếp hoặc gián tiếp qua tổ chức hiệp hội, luôn tìm cách trì hoãn việc mở cửa thị trường. Nhưng nếu cứ mãi đóng cửa như thế, ngành dịch vụ Việt Nam khó mà vươn lên và các doanh nghiệp, người tiêu dùng trong nước tiếp tục phải trả giá cao để mua dịch vụ chất lượng thấp.                        

Một số cam kết về thuế nhập khẩu của Việt Nam

Sản phẩm công nghiệp:

- Việt Nam cam kết giảm thuế đối với 80% sản phẩm hóa chất. Thuế nhập khẩu mỹ phẩm sẽ giảm từ bình quân 44% hiện nay xuống 17,9% khi thỏa thuận có hiệu lực hoàn toàn. Thuế nhập khẩu dược phẩm giảm còn trung bình 2,5% trong vòng năm năm kể từ khi gia nhập WTO.

- Thuế nhập khẩu máy bay, động cơ máy bay sẽ được bãi bỏ trong vòng bảy năm. Riêng thuế đối với phụ tùng máy bay sẽ giảm dần xuống còn dưới 9% trong khoảng thời gian trên.

- Một số loại xe của Mỹ nhập vào Việt Nam sẽ được giảm 50% thuế khi thỏa thuận có hiệu lực hoàn toàn. Thuế nhập phụ tùng, linh kiện giảm 19% xuống còn khoảng 13%. Việt Nam cũng giảm 56% thuế nhập khẩu mô tô phân khối lớn và 32% đối với linh kiện, phụ tùng.

- 90% thiết bị ngành xây dựng và nông nghiệp sẽ có mức thuế suất từ 5% trở xuống.

- Trong vòng năm năm, thuế nhập khẩu 91% thiết bị ngành dược phẩm giảm còn dưới 1% và bãi bỏ hoàn toàn 96% dòng thuế sản phẩm thiết bị khoa học trong ba năm.

- Thuế nhập khẩu sản phẩm gỗ giảm ngay còn 4%.

- Sản phẩm thép, kết cấu thép, thép phế liệu sẽ được giảm 51% so với mức thuế hiện hành trong 5-7 năm.

Sản phẩm nông nghiệp:

Mức thuế nhập khẩu bình quân của sản phẩm nông nghiệp hiện nay là 27%, sẽ được giảm xuống bằng hoặc thấp hơn 15%.

Có thể bạn quan tâm