Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhân dân ta đã làm cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công đưa đến việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng thực dân Pháp đã không cam chịu thất bại, chúng trở lại xâm lược nước ta một lần nữa buộc nhân dân ta nhất tề đứng lên thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh "toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến". Ðể phục vụ chiến dịch biên giới Việt - Trung, ngày 15-7-1950, Bác Hồ chỉ thị cho Trung ương Ðoàn Thanh niên Cứu quốc (nay là Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) tổ chức Ðội Thanh niên xung phong công tác (TNXPCT) để "giúp việc làm đường, để làm lực lượng căn bản", lúc đầu Ðội chỉ có 225 cán bộ, đội viên. Ðến các chiến dịch Trung du, đường 18, Hà - Nam - Ninh, Tây Bắc, Thượng Lào, Ðội được phát triển thêm với 2.750 cán bộ, đội viên (kể cả nữ thanh niên). Năm 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn tổng phản công, Bác Hồ nhận định: "Kháng chiến càng tiến tới, công việc ngày càng nhiều, chúng ta cần củng cố và phát triển Ðội TNXP, để bảo đảm thêm công việc kháng chiến và đào tạo cán bộ sau này. Nhiệm vụ của Ðội TNXP là xung phong mọi việc, bất kỳ việc khó, dễ và phục vụ cho đến kháng chiến thành công. Ðó là nhiệm vụ rất vẻ vang của thanh niên ta. Thành phần của Ðội gồm những thanh niên bần, cố và trung nông, những thanh niên trí thức quen lao động. Ðội cốt giáo dục cho thanh niên tinh thần quyết tâm xung phong trong mọi việc. Rèn luyện thành những thanh niên gương mẫu, những chiến sĩ thi đua, để trở nên những cán bộ tốt sau này cho Ðảng và Chính phủ... Qua từng thời gian công tác sẽ luân chuyển về chỉnh huấn chính trị - khi cần thiết thì Ðội tổ chức luyện tập quân sự và khi cần thì cũng chiến đấu ngay được. Về cung cấp thì TNXP được Ðảng và Chính phủ ưu đãi như bộ đội. Ðó là một trường đào tạo thanh niên bằng những công việc thiết thực". Bác cho lập Ðoàn TNXP với yêu cầu cao hơn và cử đồng chí Vũ Kỳ làm Ðoàn trưởng, giúp việc Ban chỉ huy Ðoàn có các Ban chuyên môn. Ðảng ủy Ðoàn cũng được thành lập và trực thuộc Trung ương.
Tháng 5-1953, Bộ Chính trị quyết định hướng chiến dịch là Tây Bắc, Ðoàn TNXP được tuyển thêm 10.000 quân với bộ khung Ban chỉ huy đội và đại đội là các Huyện ủy viên, Bí thư các huyện đoàn thanh niên, cán bộ tỉnh đoàn thanh niên và các đảng viên.
Bác Hồ không chỉ là người tổ chức mà còn thường xuyên theo dõi, động viên TNXP. Ngày 20-3-1951, tại Nà Cù, Bắc Cạn, Bác đến thăm Liên phân đội 312 đang làm đường và tặng bốn câu thơ:
"Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Ðào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên".
Những lời chỉ bảo trên đây thể hiện tình cảm, sự ưu ái và tin tưởng của Bác, trở thành ý chí, quyết tâm và sức mạnh của TNXP vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ.
Với khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến", "Tất cả để chiến thắng", hàng vạn nam thanh niên vùng tự do Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc... và các tỉnh vùng mới giải phóng ở Khu 3 đã qua cuộc phát động quần chúng giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất tình nguyện gia nhập TNXP. Có thể nói chưa bao giờ lại có phong trào tòng quân sôi nổi và vượt mức như vậy và ngày tiễn anh em lên đường vui như ngày hội. Tuyển chọn đến đâu tổ chức thành đơn vị đại đội, đồng thời với việc lập chi bộ Ðảng, chi đoàn Thanh niên cùng cấp và cứ 10 đại đội trở lên lập thành một Ðội cùng với việc lập Liên chi ủy và Liên chi đoàn Thanh niên. Sau khi học nội quy, điều lệ Ðoàn TNXP, các đại đội tiếp nối nhau hành quân, ngày nghỉ, đêm đi (vì ban ngày máy bay địch lùng sục ném bom, bắn phá khi phát hiện có mục tiêu) theo hướng Tây Bắc.
Ở Liên khu 5, để phối hợp với chiến trường Ðiện Biên Phủ, Liên khu ủy quyết định mở mặt trận Bắc Tây Nguyên và Liên khu Ðoàn đã huy động 4.000 nam, nữ thanh niên, trong đó có 2.000 đội viên TNXP tham gia phục vụ chiến dịch Ðường 19 và An Khê.
Nhiệm vụ chính của TNXP được Hội đồng cung cấp mặt trận Ðiện Biên Phủ (có tên mật là T.100) giao là bảo đảm giao thông thông suốt cho chiến dịch, làm kho tàng, lán trại, canh gác bảo vệ, tải thương, tải đạn và hàng chục loại việc khác nữa... Cho đến khi mở chiến dịch Ðiện Biên Phủ, lực lượng TNXP Trung ương có khoảng 15.000 cán bộ, đội viên (bao gồm cả số TNXP công tác chuyển sang) được bố trí trên các địa phương: Ðội 36 phục vụ các cơ quan Ðảng và Nhà nước ở an toàn khu (ATK); đội 38 làm đường 1B từ biên giới Lạng Sơn tới Thái Nguyên để tiếp nhận hàng viện trợ của các nước, làm đường 13 từ Yên Bái sang Sơn La; Ðội 34 và Ðội 40 trực tiếp bảo đảm giao thông từ Mộc Châu đến gần Ðiện Biên Phủ, dài hơn 200 km. Trừ các đại đội 401, 404 phục vụ hỏa tuyến, các đại đội 298, 409, 410 phục vụ Hội đồng cung cấp mặt trận (T.100), đại đội 291 phục vụ ở Thượng Lào, các đại đội còn lại được đóng rải rác trên tuyến đường 41 (nay là đường số 6) nhưng tập trung nhất là ngã ba Cò Nòi, đèo Chiềng Ðông, đèo Chiềng Pắc, đèo Sơn La, đèo Pha Ðin, ngã ba Tuần Giáo, cầu Tà Vài và Yên Châu, v.v...
Ðến tháng 12-1953, mặt trận chính đã hình thành là Ðiện Biên Phủ. Cả ta và địch đều tập trung lực lượng, tập trung mọi cố gắng cao nhất để giành thắng lợi trong cuộc đọ sức quyết liệt này.
Ðáp lại lời kêu gọi của Trung ương và của Bác Hồ, các lực lượng công binh, TNXP, chủ lực cầu đường và dân công đã sửa chữa, mở rộng, làm mới hàng nghìn ki-lô-mét đường, cầu (đường 1B, 13, 41, Mộc Châu - Pa Háng); các thác trên sông Ðà, sông Nậm Na, sông Mã đã được phá, các đoàn vận tải bằng ô-tô, xe đạp thồ, ngựa thồ, gánh bộ, thuyền gỗ, thuyền nan từ các miền đều tập trung về hướng Ðiện Biên Phủ.
Ðịch cho rằng mặt trận xa hậu phương 500 đến 600 km ta không tài nào cung cấp cho bộ đội đủ súng đạn, lương thực, thực phẩm với việc tổ chức vận chuyển bằng thủ công: một dân công chuyển được 20 kg lương thực thì ăn đã gần hết còn đâu đưa vào kho. Trên cơ sở tính toán đó, địch cho máy bay đánh phá khắp mọi nơi, cả trên bộ và trên sông để triệt đường vận chuyển của ta ra tiền tuyến và chúng chắc thắng. Lúc đầu chúng đánh phá từ xa, đường 1B, đường 13, đường 15 từ Thanh Hóa sang Hòa Bình, về sau chúng đánh phá những nơi gần mặt trận nhất là từ ngã ba Cò Nòi đến ngã ba Tuần Giáo - Ðiện Biên Phủ.
Ngã ba Cò Nòi là giao điểm giữa đường 13 (từ Việt Bắc sang) và đường 41 (từ Khu 3, Khu 4 lên) là đoạn đường xung yếu nhất trong tuyến đường của chiến dịch cho nên trở thành "cửa tử", thành "túi bom". Ở ngã ba này địch đánh phá ác liệt ngày cũng như đêm, có ngày chúng ném đến 300 quả bom các loại. Hằng ngày máy bay "bà già" của địch bay rất thấp, rà soát, quần đảo phát hiện mục tiêu là báo cho các máy bay phản lực Hen-cát, B26, B29 đến bắn phá, ném bom. Gay gắt nhất là khi chúng ném kết hợp nhiều loại bom cùng lúc bao gồm bom phá, bom nổ chậm, bom napan, bom bươm bướm. Bất chấp hiểm nguy, cán bộ, đội viên TNXP các đại đội 293, 300, 403, 408,... kiên cường bám trụ ngày đêm. Ðược sự huấn luyện của bộ đội công binh, các tổ phá bom đã dũng cảm lăn bom (gần mép đường) xuống vực sâu, phá những quả nằm sâu trên mặt đường. Lúc đầu còn nhiều bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn nhưng qua thực tế công tác rà phá bom càng ngày càng có kinh nghiệm, tổ chức đài quan sát bom và ghi bản đồ không để sai sót, kịp thời phổ biến kinh nghiệm và phát huy sáng kiến như ngồi trong hố cá nhân dùng sào nứa dài gạt bom bươm bướm gây nổ, v.v... Sau các trận đánh chỉ 3-4 giờ là đường lại thông. Tuy nhiên đã có hàng trăm TNXP hy sinh anh dũng tại nơi đây. Anh em đã chôn cất đồng đội bằng phên nứa thay áo quan, với tấm chăn bông mỏng, gốc cây vạt phẳng viết bằng mực tím làm mộ chí, đến nay do tác động của thiên nhiên và con người cho nên phần lớn mồ mả không còn. Tiêu biểu cho tinh thần dũng cảm rà phá bom là các đồng chí Nguyễn Tiến Thụ, Cao Xuân Thọ, Trần Cam... những người mà trước khi đi làm nhiệm vụ được đồng đội "tế sống", sau này trở thành Chiến sĩ thi đua của Ðoàn TNXP.
Ðèo Pha Ðin dài 32 km, cao 1.600 m (so với mặt biển) rừng cây rậm rạp, nhiều đoạn "cua" gấp khúc, dốc đứng, vực sâu, đường như chồng lên nhau, ô-tô phải qua nhiều "đỏ" mới qua được, lại chỉ cách mặt trận khoảng 40 km đường chim bay. Ðịch chọn nơi đây để ném bom bởi chúng tính đánh một thì phá được giao thông từ hai đến ba lần nên chúng càng đánh phá thường xuyên và ác liệt hơn. Những ngày mưa đường trơn như đổ mỡ, xe trườn lên trượt xuống, có khi bánh quay tít mà xe không chuyển chút nào. Tất cả những vất vả và hy sinh đã không khuất phục được tinh thần của TNXP. Các đại đội 264, 292, 293, 294, 295, 403, 405,... được phân công phụ trách từng đoạn đường, ở xa các trọng điểm 4-5 km, anh em phải chia ca kíp làm cả ngày cả đêm phá bom, chống lầy, san lấp mặt đường và nhờ có sự chuẩn bị sẵn nhiều đá, nhiều cây gỗ nên công việc khôi phục đường được nhanh chóng.
Một lần có 10 chiếc xe chở đạn pháo của bộ đội vượt đèo Pha Ðin, chiếc xe đầu bị trúng bom bốc khói, đồng chí Trịnh Văn Huyền đã nhảy lên xe dũng cảm dập lửa và hô đồng đội đến cứu xe. Anh em các đại đội ở gần đó đã xông đến cứu hàng, cứu xe bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, người dùng xẻng, dùng bao tải dập lửa, người bốc hàng trên xe xuống đường. Ðoàn xe được an toàn và tiếp tục ra mặt trận. Trịnh Văn Huyền được tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhì, được kết nạp Ðảng, được bầu là Chiến sĩ thi đua và được cử vào Ðoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam đi dự Liên hoan Thanh niên và sinh viên thế giới ở Vác-sa-va (Ba Lan) năm 1955. Vùng Pha Ðin, Tuần Giáo có nhiều TNXP hy sinh, riêng đại đội 293 có 17 người.
Cầu Tà Vài dài khoảng 60 m, cách đó không xa là cầu Yên Châu nằm trên cùng một dòng suối lớn, về mùa cạn thì nơi nào cũng lội qua được nhưng mùa mưa lại rất nguy hiểm. Ðại đội 407, tiền thân là liên phân đội Hăng-ri-mác-tanh nổi tiếng về phá bom, từ Ðội TNXP công tác Trung ương chuyển qua Ðoàn TNXP (từ Thượng Lào về) được phân công chốt ở hai vị trí này cùng hai đơn vị bạn 292, 297. Sau khi cầu bị đánh sập, anh em phải làm đường ngầm nhưng vùng này lại ít đá nên phải đan rọ bằng giang hoặc bằng cây gỗ nhỏ làm khung bỏ đá "đầu trọc", chặt tre, gỗ làm rong đanh, lát mặt đường, hai bên đóng cọc giữ chặt các cây buộc giằng bằng dây giang để cho ô-tô qua lại không trơn, không lầy. Ðịch ném bom hỏng đoạn nào thay đoạn ấy. Rút kinh nghiệm ở các đơn vị khác, ở đây cũng chuẩn bị thật nhiều đá, thật nhiều tre, cây gỗ nên khắc phục hậu quả được nhanh hơn.
T.100 - "cái dạ dày" của chiến dịch Ðiện Biên Phủ cứ ngày càng "to ra". Ở đây TNXP làm nhiệm vụ xây dựng hệ thống kho tàng, trạm trại, bốc vác, vận chuyển và bảo vệ kho, hằng ngày phải vào rừng chặt cây ngụy trang các con đường vào kho, anh em làm việc với tinh thần trách nhiệm cao và ý thức kỷ luật thật nghiêm vì chỉ sơ suất một chút là có thể ảnh hưởng đến chiến dịch.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, điều kiện liên lạc, đi lại hết sức khó khăn, các đội và đại đội ở phân tán trên tuyến đường hàng mấy trăm km, xa sự lãnh đạo của Ban chỉ huy đoàn, đội, các chi bộ phát huy tinh thần tự động công tác liên hệ chặt chẽ với các đơn vị bộ đội, với Hội đồng cung cấp mặt trận, với địa phương nơi đóng quân nắm chủ trương của Ðảng và cấp trên, giữ vững sinh hoạt chi bộ, chi đoàn, đoàn kết giúp đỡ nhau, bảo đảm đời sống, bảo đảm tốt quan hệ với các cơ quan sử dụng và nhân dân địa phương. Từ đó mà nhiệm vụ được giao anh em đều hoàn thành.
Tuy TNXP chỉ là một lực lượng nhỏ nhưng lại là lớp người tuổi trẻ, hăng hái, lại được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật cao, tình nguyện phục vụ đến kháng chiến thành công nên được giao nhiệm vụ ở các trọng điểm của chiến dịch. Với quyết tâm "TNXP còn thì mạch giao thông luôn được giữ vững", TNXP không chỉ làm đường, phục vụ chiến đấu anh dũng và đầy sáng tạo mà trong chiến dịch còn chuyển sang bộ đội 8.000 quân (kể cả 2.000 quân của Ðội 38) trực tiếp cầm súng chiến đấu góp phần vào Chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ (ngày 7-5-1954) chấn động địa cầu.
Trong thư ngày 8-5-1954, Bác Hồ khen "Quân ta đã giải phóng Ðiện Biên Phủ, Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, dân công, TNXP và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang. Thắng lợi lớn nhưng là bước đầu, chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình"...
...TNXP Việt Nam, trong đó có Ðoàn TNXP Trung ương, thật xứng đáng với niềm tin yêu của Bác Hồ, với phần thưởng cao quý mà Ðảng và Nhà nước đã phong tặng "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân".
50 năm đã trôi qua kể từ Chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ, đất nước ta nói chung, Ðiện Biên, Lai Châu nói riêng có bộ mặt tươi đẹp như ngày nay, trong đó có phần cống hiến và trưởng thành của TNXP càng minh chứng tầm nhìn xa, trông rộng của Bác Hồ. Và thật xúc động xiết bao trước khi đi xa Bác còn ghi lại trong Di chúc, nhắc nhở "Những chiến sĩ trẻ tuổi trong lực lượng vũ trang và TNXP đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đã tỏ ra dũng cảm. Ðảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Ðó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta".