Thanh lịch, văn minh - nét đẹp văn hóa  Thăng Long - Hà Nội

Do sự phát triển của kinh đô, tự nó từng bước được tổ chức và quản lý, dù còn rất thô sơ, nhưng đòi hỏi phải được cai quản chặt chẽ thống nhất hơn so với lối sống thuần nông tùy tiện hầu như còn rất phổ biến ở xã hội Việt Nam thời bấy giờ.

Số dân cư bản địa, nếu tính về tỷ lệ thì ngày càng nhỏ so với số dân nhập cư. Trong số dân du nhập ngày càng lớn ấy, những người ưu trội về nhiều mặt như thợ thủ công, người buôn bán, các bậc nho sĩ, nghệ sĩ, những người tài hoa theo thời gian ngày càng đông tìm đến sinh sống, kể cả những người phục vụ cho triều đình. Như vậy, theo sự vận động vì mục tiêu sinh nhai, hay vì yêu cầu của thời cuộc, trong số dân cư Thăng Long dần dần hình thành một tầng lớp có sự phát triển ưu trội so với các miền khác của đất nước. Dĩ nhiên, các tầng lớp dân cư du nhập vào đất kinh đô này cũng là sự phản chiếu khá phức tạp của xã hội nước ta trong thời kỳ lịch sử.

Ðây chính là quá trình tự phát triển, tự sàng lọc của bản thân sự phát triển xã hội theo các quy luật vốn có của nó, cái gì tốt đẹp được thừa nhận thì lan tỏa ra, cái gì không phù hợp với sự phát triển sẽ bị thui chột đi. Chính những gì thích nghi với thời cuộc, với thời đại mới có cơ sở trường tồn, góp phần cải thiện cuộc sống đương thời, góp phần thúc đẩy xã hội tiến lên phía trước, rồi dần dần vượt qua sự biến đổi về thời gian để trở thành truyền thống. Truyền thống không phải là sản phẩm ngẫu nhiên theo sự định đoạt tùy ý chủ quan của con người, mặc dù chính con người làm nên lịch sử. Con người sáng tạo văn hóa, văn hóa lại sáng tạo ra con người.

Các bậc nho sĩ vốn xuất thân từ nhiều miền quê hiếu học, lần lượt về Thăng Long để biểu thị tài năng qua các kỳ thi, với sự lựa chọn khắt khe, do triều đình tổ chức. Trong lịch sử nước nhà, việc học hành được khuyến khích, nhiều tài năng vốn lớn lên ở chốn thôn quê hẻo lánh đã được ghi vào bảng vàng trong các kỳ thi ở đất Thăng Long và Thăng Long trở thành nơi hội tụ hiền tài cả nước - vốn quý của dân tộc, có ảnh hưởng to lớn đến sự hưng thịnh của xã tắc, đến cuộc sống của muôn dân trăm họ. Chính vì vậy, qua sự thăng trầm của lịch sử, ông cha ta đã tổng kết bài học hết sức khái quát và sâu sắc như là triết lý phát triển của Việt Nam. Bài học lịch sử đó là: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp".

Các bậc danh nhân nước ta khi bàn tới hiền tài cũng đã đưa ra sự đánh giá mà ý nghĩa của sự đánh giá đó mang tính thời sự sống động cho đến tận ngày nay. Nguyễn Trãi cho rằng: Có nhân, có trí, có anh hùng. Lê Quý Ðôn lại cho rằng: Phi trí bất hưng, nghĩa là nếu thiếu vắng những người có trí tuệ thì đất nước không thể hưng thịnh được.

Như thế đủ thấy, các danh nhân Hà Nội, cũng là danh nhân của cả dân tộc, đã hết sức quan tâm đến con người nói chung, trong đó đặc biệt quan tâm đến các bậc hiền tài của đất nước như là một động lực quyết định sự phát triển của xã hội, của đất nước, cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Ðây cũng là vấn đề có tính lịch sử sâu lắng trong cội nguồn văn hóa hun đúc nên những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam, mà con người Hà Nội là tiêu biểu nhất được thể hiện trong lao động, trong giao tiếp, trong nếp sống thanh lịch, văn minh.

Thanh lịch, văn minh tự nó cũng có những đổi thay sao cho phù hợp với quy ước, quy định chung, tuân thủ luật pháp mà vẫn có vẻ đẹp riêng -  một nét đẹp ở cư dân Thăng Long - Hà Nội.

Trong các di sản văn hóa của dân tộc ta, một nền văn hóa pháp lý với bao giá trị quý giá vẫn chưa tìm hiểu thấu đáo, khai thác phục vụ cho cuộc sống pháp lý hiện đại. Xin lấy Quốc triều hình luật thời Lê (bộ luật Hồng Ðức) để suy ngẫm.

Bộ luật Hồng Ðức, theo đánh giá của sử gia Phan Huy Chú: "Thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân" là sự phản ánh trình độ văn minh của nhân dân ta đạt được vào thế kỷ 15 - 18 trong mối tương quan với các quốc gia thuộc nền văn minh Ðông Á như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên cùng chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Ðiều cần nhấn mạnh là mặc dù chịu ảnh hưởng của pháp lý và các quy tắc pháp luật của Trung Hoa thời phong kiến, nhưng luật Hồng Ðức là bộ luật của người Việt Nam, là sản phẩm văn hóa của người Việt Nam chứ không phải là sự sao chép máy móc pháp luật của nhà Ðường hay nhà Minh. Giá trị của bộ luật Hồng Ðức được các học giả quốc tế đánh giá cao.

Việc soạn thảo một bộ luật hơn 700 điều mà vẫn giữ được tính nhất quán, tính logic nội tại của một công trình khoa học cho thấy các nhà trí thức, thường được gọi là các bậc sĩ phu Bắc Hà, thời bấy giờ đã có một trình độ uyên bác rất đáng tự hào.

Tầm cao trí tuệ đó lan tỏa vào đời sống nhân dân cả nước, trước hết là với các cư dân của đất kinh thành như ánh sáng, như năng lượng tạo ra hoa thơm, trái ngọt làm cho cuộc sống văn hóa hướng tới chân, thiện, mỹ; làm cho dân cư đô thành giữ được nét đẹp văn minh.

Ở thời đại Hồ Chí Minh, vấn đề trọng dụng người tài để phụng sự Tổ quốc cũng hết sức sáng tỏ. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong sự bộn bề của biết bao công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho vấn đề này một sự quan tâm lớn lao. Ngày 14-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư gửi đồng bào cả nước kêu gọi ai có tài năng thì ra giúp nước. Người viết: "Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều" (1).

Ðáp lời kêu gọi của Người, nhiều người đã ra sức giúp nước và nhiều người đã tiến cử những người tài năng xứng đáng đảm nhận trách nhiệm quan trọng.

Một năm sau, ngày 2-11-1946, báo Cứu quốc số 411 lại đăng thư tìm người tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thư viết: "Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết" (2).

Trong tiến trình lịch sử, Thăng Long - Hà Nội vẫn là trung tâm hội tụ các bậc anh tài của đất nước, nhất là khi Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam độc lập. Từ đó, Hà Nội là đầu não chính trị - hành chính, trung tâm văn hóa của cả nước; từ đó, việc xây dựng con người Hà Nội sao cho tương xứng với vinh dự và trách nhiệm của người dân Thủ đô của nước Việt Nam có bề dày nghìn năm văn hiến được sự quan tâm của lãnh đạo Trung ương, các bộ, ngành và lãnh đạo thành phố Hà Nội cũng như với người dân của Hà Nội.

Từ sau hòa bình được lập lại, số lượng các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ở Thủ đô tăng lên rất nhanh; các viện nghiên cứu khoa học, các đoàn nghệ thuật, các trung tâm hoạt động văn hóa của Trung ương và của thành phố Hà Nội cũng tăng lên đáng kể; giáo dục phổ thông của Hà Nội về quy mô và chất lượng đạt nhiều thành tựu rất đáng tự hào. Hà Nội đã hoàn thành phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở... Tất cả những thành tựu ấy làm cho đời sống văn hóa của nhân dân Thủ đô cả về thanh lịch và văn minh đều có chất lượng mới.

Hà Nội với nhiều phong trào thi đua: "Biểu dương người tốt, việc tốt"; "Xây dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hóa"; "Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư";... góp phần xây dựng nếp sống của nhân dân có văn hóa lành mạnh, đoàn kết, có tình thân ái, phát huy tính cộng đồng, khoan dung vốn đã được hình thành từ cội nguồn văn hóa truyền thống.

Vấn đề cần quan tâm đến trách nhiệm của cả nước cũng như cả Thủ đô hiện nay là đẩy mạnh thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 nước ta sẽ trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Bước chuyển lớn lao này của đất nước đặt ra nhiều nhiệm vụ phải được thực hiện tốt, trong đó đòi hỏi cả nhịp sống của xã hội từng bước chuyển sang nhịp sống công nghiệp. Xã hội công nghiệp đòi hỏi nhiều đức tính và phẩm chất mới: năng động hơn, nhanh nhạy hơn, kỷ cương chặt chẽ hơn, chất lượng tốt hơn. Trong lao động công nghiệp, hàm lượng chất xám cũng tăng dần lên. Công nghệ hiện đại, trước hết là công nghệ thông tin, được ứng dụng rộng rãi đến từng người lao động, đến từng gia đình dân cư. Việc học tập trở thành một nhu cầu rộng lớn đối với xã hội. Trong nếp sống công nghiệp, việc giao lưu về nhiều mặt đối với ngoài trở nên hết sức phổ biến, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Thời cơ lớn thì thách thức cũng lớn, đời sống văn hóa cũng trở nên phong phú hơn, phức tạp hơn. Những hiện tượng phản văn hóa cũng đã xảy ra và có thể tăng lên trước hết đối với một bộ phận tuổi trẻ. Nhiệm vụ bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trong quá trình tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

 Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội ngày 15-12-2000 rất toàn diện và cụ thể,  xin được trích một đoạn: "Tập trung làm lành mạnh, trong sạch môi trường văn hóa xã hội; xây dựng người Hà Nội văn minh, thanh lịch, hiện đại, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và phong cách lao động sáng tạo của con người Việt Nam".

Xây dựng người Hà Nội văn minh, thanh lịch trở thành một trong những nhiệm vụ của nhân dân Thủ đô.

Ðể làm tốt nhiệm vụ này, cần xác định đây là cuộc vận động phải được thực hiện rộng rãi và lâu dài, nét đẹp văn hóa được lan tỏa dần cùng với tiến trình phát triển đất nước. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thành phố giữ vai trò rất quan trọng trong cuộc vận động này. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Tuyên truyền đời sống mới cũng như tuyên truyền việc khác, phải hăng hái, bền gan, chịu khó, đồng thời phải cẩn thận, khôn khéo, mềm mỏng" (3).

Trong điều kiện kinh tế thị trường và công nghiệp hóa, việc vận động thực hiện nếp sống mới, xây dựng con người Hà Nội thanh lịch, văn minh vừa có thuận lợi cần phát huy, vừa có khó khăn cần khắc phục. Chúng ta tin tưởng rằng, Hà Nội - đất văn hiến và anh hùng - sẽ vươn tới tầm cao mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trở thành Thủ đô ngày càng giàu đẹp, thanh lịch, văn minh.

Giáo sư Viện sĩ 
Nguyễn Duy Quý

...............................................

(1). Hồ Chí Minh Toàn tập, T4, NXB Chính trị Quốc gia, H, 1995, tr.99.

(2). Sách đã dẫn, tr 451.

(3). Hồ Chí Minh Toàn tập, T5, NXB Chính trị Quốc gia, H, 1995, tr.109.਍

Có thể bạn quan tâm