PGS-TS Trần Thị Lợi, Phó Chủ nhiệm Bộ môn Phụ sản Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, cho biết TNTC là hiện tượng trứng thụ tinh, làm tổ và phát triển ở một vị trí ngoài buồng tử cung. Trong hơn 90% các trường hợp TNTC thì thai đóng ở vòi trứng, một số ít trường hợp thai đóng ở buồng trứng, cổ tử cung hay trong ổ bụng. Mọi yếu tố ngăn cản hay làm chậm sự di chuyển của trứng từ nơi thụ tinh (thường là ở 1/3 ngoài của vòi trứng) vào đến buồng tử cung đều có thể gây ra TNTC. Theo PGS Lợi, những yếu tố thuận lợi gây ra TNTC là: tiền căn viêm nhiễm vòi trứng; khối u ở phần phụ làm cho vòi trứng bị chèn ép, khiến lòng vòi bị hẹp lại hoặc vòi trứng bị kéo dài ra; dị dạng bẩm sinh vòi trứng; những phẫu thuật trước đó đã thực hiện trên vòi trứng... Tại những nước đang phát triển, TNTC là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho người mẹ khi TNTC vỡ, dẫn đến xuất huyết nội. Tại Việt Nam, do chẩn đoán trễ, nhất là bệnh nhân ở xa, mà tỷ lệ tử vong do vỡ TNTC có thể lên đến 1%-1,5%!
| Nạo hút thai: Yếu tố làm tăng nguy cơ TNTC |
| Khảo sát của PGS - TS-BS Trần Thị Lợi và BS Nguyễn Thị Thắm trong hai năm 2002 và 2003, trên 122 trường hợp TNTC nhập viện BV Từ Dũ, cho thấy người có tiền sử nạo phá thai có nguy cơ TNTC cao gấp 2,7 lần người không có tiền sử. Còn trong nghiên cứu của Th.S-BS Tạ Thị Thanh Thủy vào năm 1996, trên 241 ca nhập viện BV Hùng Vương, thì người đã nạo phá thai có nguy cơ TNTC cao gấp 5 lần. Vì sao có mối liên quan này? Trong một nghiên cứu của TS-BS Vũ Thị Nhung, Giám đốc BV Hùng Vương, trên 243 trường hợp nạo hút thai, biến chứng thường gặp nhất là sót nhau hoặc sót một phần thai, kế đến là nhiễm khuẩn, dính buồng tử cung hoặc thủng tử cung. Tại nước ngoài, người ta còn thấy rằng TNTC liên quan đến số lần nạo hút thai. Đối với 1 lần nạo thì nguy cơ TNTC tăng lên 1,4 lần, và 2 lần nạo là 1,9 lần. |
Điều trị kinh điển TNTC trước nay vẫn là phẫu thuật mở bụng cắt bỏ 1 bên vòi trứng. Hạn chế của phương pháp này là tương lai sinh sản của bệnh nhân bị giảm nhiều vì bị mất một vòi trứng. Ngày nay với sự phát triển của siêu âm đầu dò âm đạo và kỹ thuật định lượng b- HCG ( hoóc-môn đặc biệt của phụ nữ, tăng cao khi có thai) các thầy thuốc có thể chẩn đoán sớm và điều trị bảo tồn TNTC. Hai phương pháp điều trị bảo tồn TNTC được ứng dụng nhiều ở các nước có nền y khoa phát triển là mổ nội soi ổ bụng xẻ vòi trứng lấy thai và điều trị nội khoa với thuốc Methotrexate (MTX). Trong vài năm qua, cả hai phương pháp này đã được áp dụng tại BV Từ Dũ và Hùng Vương.
Một nghiên cứu vừa công bố của TS Trần Thị Lợi và BS Bùi Chí Thương trên 196 phụ nữ bị TNTC tại BV Từ Dũ được mổ nội soi cho thấy tỷ lệ thành công lên đến 95,9%. Trong 4,1% trường hợp sót thai, 87,5% trường hợp được giải quyết thành công bằng MTX, số còn lại được giải quyết triệt để bằng nội soi cắt ống dẫn trứng. Ưu điểm của mổ nội soi bảo tồn là ít mất máu, ít đau, thời gian nằm viện ngắn và đặc biệt là giúp bệnh nhân sau đó có thể có thai bình thường.
Còn tại BV Hùng Vương, nghiên cứu của Th.S-BS Tạ Thị Thanh Thủy và BS Đỗ Danh Toàn trên 110 bệnh nhân được điều trị bằng thuốc cho thấy tỷ lệ thành công lên đến 90,9% (tương đương thế giới). Trong số này, 61 trường hợp (55,5%) dùng 1 liều thuốc, 40 trường hợp (36,4%) dùng 2 liều và 9 trường hợp (8,1%) dùng 3 liều. Thời gian khối thai ngoài tử cung biến mất trên siêu âm là 31,8 (±20,7) ngày. Không ghi nhận được bất kỳ phản ứng phụ trầm trọng nào của thuốc ngoại trừ 5 trường hợp bệnh nhân thấy buồn nôn. Tỷ lệ có thai lại sau điều trị đạt xấp xỉ 50% sau 12 tháng theo dõi. Đặc biệt trong số bệnh nhân có thai lại trong tử cung thì có 5 trường hợp bệnh nhân chỉ còn một vòi trứng duy nhất vì vòi trứng kia từng bị cắt ở lần TNTC trước đó. Phương pháp điều trị nội khoa này giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh, hiệu quả kinh tế cao, bệnh nhân cũng không phải đau đớn hay mặc cảm vì mổ xẻ.
KIM YẾN
(Người lao động)
Khám thai đầy đủ là biện pháp tốt nhất để phát hiện TNTC
* Dựa vào những dấu hiệu nào mà bệnh nhân biết được mình bị TNTC để có thể đến BV sớm nhất?
- Th.S-BS Tạ Thị Thanh Thủy (BV Hùng Vương): Theo thống kê, 80%-90% bệnh nhân TNTC có triệu chứng đau bụng, 10%-20% bệnh nhân không đau bụng nhưng vòi trứng đã vỡ và gây xuất huyết. Nhưng chắc chắn nhất là mỗi khi có dấu hiệu mang thai thì mọi phụ nữ nên đi khám để được xác định thai có nằm đúng chỗ hay không.
* Không chỉ ở Việt Nam, mà cả ở những nước tiên tiến, TNTC vẫn là bệnh lý phổ biến. Ngoài mối liên hệ với nạo hút thai, những yếu tố nào góp phần làm tăng TNTC?
- 1/3 trường hợp TNTC có liên quan đến yếu tố di truyền. Ngoài ra, TNTC dễ xảy ra cho những người bị nhiễm khuẩn sinh dục, đặc biệt là vi khuẩn Clamidia. Một thống kê của tôi vào năm 1996 còn cho thấy phụ nữ có nhiều bạn tình sẽ bị TNTC cao hơn người sống chung thủy. Trong những năm gần đây, người ta còn thấy những phương pháp thụ tinh nhân tạo dễ làm tăng nguy cơ TNTC.
* Siêu âm đầu dò âm đạo và kỹ thuật định lượng b-HCG là kỹ thuật tiên tiến để phát hiện TNTC. Phương pháp này được triển khai phổ biến ở nước ta chưa và nơi nào bệnh nhân có thể tìm đến để thực hiện?
- Hầu như mọi BV tuyến 3 trở lên đều trang bị 2 kỹ thuật này. Một số BV tuyến 2 có siêu âm đầu dò, nhưng không định lượng được b-HCG, nên thay bằng que thử thai. Phương pháp này có độ chính xác không cao, nhưng dù sao thì có còn hơn không.
* Mổ nội soi bảo tồn và điều trị nội khoa bằng thuốc là hai phương pháp tiên tiến để điều trị TNTC. Dựa trên yếu tố nào mà người thầy thuốc có thể áp dụng cách này hay cách kia cho bệnh nhân?
- Các nghiên cứu so sánh hai phương pháp này trên thế giới đều cho kết quả tương đương nhau. Sự chọn lựa phụ thuộc vào người thầy thuốc, kinh nghiệm điều trị bằng phương pháp nào. Ngoài ra, cũng tùy thuộc vào bệnh nhân, vì nếu dùng thuốc thì nằm viện lâu hơn, nhưng lại không cần phải mổ xẻ và mang sẹo; ngược lại, những ai không thể chờ đợi lâu thì chọn cách mổ nội soi.
* Thưa BS, làm thế nào để phòng ngừa TNTC?
- Do 1/3 trường hợp TNTC liên quan đến di truyền, nên về khía cạnh này thì không thể phòng ngừa. Tuy nhiên, trong những trường hợp còn lại, ta có thể phòng ngừa bằng cách giữ vệ sinh tốt, phòng ngừa viêm nhiễm sinh dục, nếu không muốn có thai thì nên áp dụng một phương pháp ngừa thai nào đó để hạn chế nạo phá thai, không quan hệ tình dục bừa bãi.
M.H thực hiện
(Người lao động)