Vận động đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên

NDO - Công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng.
(Ảnh minh họa)
(Ảnh minh họa)

Dân vận là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng. Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hành những công việc nên làm, những công việc mà đoàn thể và Chính phủ đã giao cho”[1].

Công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định một trong những nhiệm vụ quan trọng về xây dựng Đảng trong điều kiện hiện nay là “tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân”.

Theo đó, Nghị quyết đưa ra mục tiêu rất rõ của công tác dân vận là: “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Nội dung cốt lõi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác dân vận là quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, về tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt quy chế dân vận của hệ thống chính trị. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận.

Công tác dân vận có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vấn đề có ý nghĩa quyết định để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là Đảng phải chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích của nhân dân; thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; củng cố và xây dựng tổ chức đảng thật trong sạch, khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ trung thành của nhân dân. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ. Phải luôn luôn lấy mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân làm cơ sở cho việc giáo dục, thuyết phục, tổ chức, hướng dẫn nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng.

Chế độ ta là chế độ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng, do đó phải thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Cần khắc phục tệ quan liêu, xa dân, không tin dân, chuyên quyền độc đoán, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Cùng với việc chăm lo lợi ích thiết thực, nâng cao tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường cho nhân dân, công tác dân vận phải hết sức coi trọng phát huy dân chủ, quan tâm chăm lo lợi ích chính đáng cho nhân dân, tích cực chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng phải gắn liền với công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Mọi quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước phải phù hợp lợi ích của dân, do dân, vì dân.

Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu để nhân dân tin tưởng, noi theo. Rút kinh nghiệm từ thực tiễn những năm đổi mới vừa qua, có một số chủ trương, cơ chế chính sách, một số quyết định khi ban hành chưa được nhân dân đồng tình ủng hộ. Nguyên nhân chủ yếu là do bệnh quan liêu, không sát dân, không sát thực tiễn, không nắm được tâm tư và nguyện vọng của nhân dân; quy trình, cách soạn thảo văn bản và ra các quyết định chưa có sự tham gia ý kiến, góp ý của nhân dân; những hạn chế, yếu kém trong hoạt động của một số tổ chức đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp; sự thiếu gương mẫu của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Vì thế, muốn làm tốt công tác dân vận trước hết phải xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu; các chủ trương, chính sách đề ra phải thực sự vì dân và phát huy được những sáng kiến của nhân dân. Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt.

Các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải lấy công tác vận động và chăm lo lợi ích của nhân dân làm nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình. Mọi cán bộ, đảng viên đều phải làm công tác dân vận, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và vận động nhân dân thực hiện theo chức trách của mình; khắc phục hiện tượng không muốn làm hoặc không biết làm công tác dân vận.

Những năm qua, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng miền núi và dân tộc cả nước nói chung và Tây Nguyên nói riêng, Đảng và Nhà nước đã ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và hướng dẫn thực hiện. Cấp ủy các cấp quan tâm quán triệt, triển khai, thực hiện, sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương về công tác vận động quần chúng vùng đồng bào dân tộc thiểu số như: Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về "Công tác dân tộc”, Nghị quyết số 25-NQ/TW về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Phương hướng nhiệm vụ phát triển đến năm 2020”, Chỉ thị số 49-CT/TW về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc về “Công tác vận động quần chúng trước yêu cầu mới”; phương hướng “Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số”.

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm về trật tự xã hội trên phạm vi cả nước nói chung, ở các tỉnh Tây Nguyên nói riêng diễn biến đa dạng, tiềm ẩn những nguy cơ phức tạp, với tính chất mức độ ngày càng nghiêm trọng.

Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm giữ gìn an ninh trật tự, lực lượng Công an nhân dân sử dụng và phát huy triệt để các biện pháp công tác trong đó có công tác dân vận, vận động đồng bào dân tộc thiểu số bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên.

Đặc thù trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên là dân số chiếm phần lớn đa số là người dân tộc thiểu số, hình thành các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cộng đồng dân cư Tây Nguyên đầu tiên là các tộc người bản địa sinh tụ lâu đời (Người Thượng) gồm 13 dân tộc (Gia rai, Ê đê, Ba na, K’ho, Xê đăng, M’nông, S’Tiêng, Mạ, Cil, Chu Ru, H’re, Brâu, Rơ măm). Các tộc người có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á là Ba na, Xê đăng, K’ho, M’nông, Mạ, Gié-Triêng, Brâu, Rơ măm, H’rê. Các tộc người có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Đảo là Gia rai, Ê đê, Chu ru, Ra glai. Trong đó, những DTTS có mật độ dân số cao hơn các DTTS khác là Gia rai, Ê đê, Ba na, K’ho, Xê đăng, M’nông...

Mặc dù, ngôn ngữ thuộc ngữ hệ khác nhau nhưng do đặc điểm về địa lý, dân cư, điều kiện kinh tế-xã hội, các tộc người dân tộc thiểu số bản địa ở Tây Nguyên có nhiều đặc điểm chung, nổi bật, tạo nét tâm lý tộc người, nhất là về các đặc điểm tâm lý cộng đồng, tính cộng đồng bền vững, về luật tục trong đời sống xã hội, tín ngưỡng, phát triển kinh tế.

Trong giai đoạn 2013 đến nay, công tác dân vận trong vận động quần chúng bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên đã được cấp ủy các cấp quan tâm quán triệt, triển khai, thực hiện, sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương, của địa phương về công tác vận động quần chúng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Hội đồng nhân dân các cấp đã có nhiều đổi mới trong nội dung, phương thức hoạt động, giám sát, tiếp xúc cử tri vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng dân chủ, cụ thể, thiết thực, được nhân dân đồng tình, UBND các cấp triển khai thực hiện Chỉ thị số 18/2000/CT-CP (nay là Chỉ thị số 16/CT-CP) của Thủ tướng Chính phủ về công tác dân vận của chính quyền, trong đó tập trung làm chuyển biến nhận thức về công tác dân vận của chính quyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hằng năm, địa phương cụ thể hóa chủ trương của Đảng về công tác dân tộc bằng chương trình hành động, các cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện cho đồng bào phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo như: các đề án về phát triển kinh tế-xã hội khu vực Tây Nguyên; về nâng cao chất lượng công tác vận động quần chúng tuyến biên giới các tỉnh Tây Nguyên; về giảm nghèo và nâng cao mức sống cho nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên; quy định về chế độ hỗ trợ đối với cán bộ, công chức tăng cường về các huyện, xã trọng điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn; các chương trình hỗ trợ vay vốn sản xuất cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; hỗ trợ học phí, gạo, hỗ trợ học nghề cho học sinh dân tộc thiểu số; hỗ trợ định canh, định cư, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo…

Công tác dân vận của công an, quân sự, Bộ đội Biên phòng có nhiều chuyển biến tích cực, hiệu quả. Các đơn vị lực lượng vũ trang đã tổ chức các tổ, đội công tác, đội xây dựng tăng cường cơ sở về các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, biên giới để bám sát địa bàn, gần gũi với nhân dân, nắm tình hình, tuyên truyền vận động đồng bào thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; giúp nhân dân phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai; tham gia xây dựng củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, phòng chống di dịch cư tự do, truyền đạo trái pháp luật... góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở miền núi, biên giới các tỉnh Tây Nguyên.

Công tác phối hợp giữa các đơn vị lực lượng vũ trang với địa phương đạt được nhiều kết quả thiết thực. Toàn tỉnh đã có nhiều mô hình, điển hình "Dân vận khéo" về quốc phòng, an ninh như “Đường biên giới bình an”, “Tổ, đội công tác cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc với bà con các dân tộc thiểu số, diễn đàn “Công an lắng nghe ý kiến nhân dân”, phong trào ''Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc'', phong trào ''Quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự buôn (làng) khu vực biên giới''; Đề án về thực hiện mục tiêu ''3 yên, 3 giảm'', đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, di dịch cư tự do, truyền đạo trái pháp luật, mua bán người, lừa đảo trong bán hàng đa cấp; đồng thời, phối hợp củng cố được hàng trăm chi đoàn, chi hội, chi bộ yếu kém đi vào hoạt động hiệu quả.

Cấp ủy các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng cán bộ người dân tộc thiểu số. Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 22-NQ/TW về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; Đề án về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS, cán bộ nữ, cán bộ trẻ có triển vọng; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số.

Nhiệm kỳ 2015-2020 có 9 ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh là người dân tộc thiểu số, chiếm 12,85%. Cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số đang công tác ở khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội cấp tỉnh có 15/431 người, chiếm 3,48%; khối chính quyền cấp tỉnh có 72/1.530 người, chiếm 4,7%.

Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế. Năng lực lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ sở vùng dân tộc thiểu số còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, chưa tạo được khâu đột phá trong chỉ đạo phát triển kinh tế-xã hội. Công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa thường xuyên, liên tục, thiếu kịp thời, thiếu chiều sâu, hiệu quả chưa cao; nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền vận động nhân dân chưa phù hợp trình độ nhận thức, đặc điểm tâm lý của từng dân tộc, từng địa phương. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội ở nhiều cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, chậm được đổi mới; sự phối hợp của các bộ phận làm công tác dân tộc của cấp ủy, chính quyền với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể còn thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ. Tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức, quan liêu, gây phiền hà cho nhân dân còn diễn ra ở nhiều nơi; công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương chưa kịp thời. Công tác nắm bắt tâm tư và nguyện vọng của nhân dân để động viên giúp đỡ nhân dân tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc còn chậm, thiếu chủ động đề xuất các giải pháp xử lý. Cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đúng mức trong việc tuyển dụng cán bộ, phát hiện nhân tố tích cực để đào tạo, bồi dưỡng, cân nhắc các vị trí lãnh đạo, quản lý là người dân tộc thiểu số. Cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số làm việc và giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, ban, ngành còn ít.

Để phát huy hiệu quả công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, thời gian tới cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xác định rõ công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ rất quan trọng, thường xuyên, là trách nhiệm của cấp ủy, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Kịp thời nắm được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số; trên cơ sở đó có giải pháp xử lý phù hợp. Người đứng đầu cấp ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp phải thường xuyên đối thoại, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân. Các cơ quan thông tin đại chúng, chủ động định hướng dư luận xã hội và đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện có hiệu quả chủ trương về xóa đói, giảm tỉ lệ hộ nghèo, nâng cao mức thu nhập; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh và đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có chất lượng, tỷ lệ và cơ cấu hợp lý, thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện công tác dân vận của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; sơ kết, tổng kết các chủ trương của Đảng về công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hai là, tăng cường và đổi mới công tác dân vận trong các cơ quan Nhà nước; rà soát, ban hành và thực hiện tốt chính sách dân tộc. Thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tiếp tục rà soát, bổ sung, sửa đổi những bất cập của hệ thống chính sách dân tộc phù hợp đặc điểm tự nhiên và xã hội của từng vùng, từng dân tộc. Quan tâm đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội thiết yếu, hỗ trợ đồng bào các dân tộc phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách dân tộc ở cơ sở; xây dựng và công khai quy định về trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức, có sự phân công cụ thể trong phụ trách công tác dân vận ở vùng dân tộc thiểu số.

Ba là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, hướng về cơ sở, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Cán bộ đoàn thể các cấp phải tăng cường tới cơ sở, bám sát cuộc sống người dân; tổ chức các hoạt động để hướng dẫn đồng bào các dân tộc thiểu số vươn lên xóa đói, giảm nghèo, đổi mới tập quán sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa, xây dựng nông thôn mới. Nâng cao hiệu quả công tác giám sát, phản biện và chủ động tham gia xây dựng các chính sách có liên quan đồng bào dân tộc thiểu số trước khi ban hành. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội với chính quyền, lực lượng vũ trang trong công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số với những nội dung cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Đề cao và phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào. Xây dựng, bổ sung quy ước, hương ước của xã, thôn, bản, buôn, ấp để xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ, văn minh phù hợp từng địa phương, cơ sở.

Bốn là, tăng cường hoạt động phối hợp chặt chẽ giữa công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số với công tác đối ngoại nhân dân trong bảo vệ biên giới; đấu tranh chống âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, quan hệ thân tộc, dòng tộc của đồng bào vùng giáp biên giới với các nước láng giềng, góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Tăng cường giao lưu hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa giữa nhân dân hai bên biên giới; nâng cao nhận thức của đồng bào vùng dân tộc thiểu số về chủ quyền lãnh thổ, ý thức bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Kịp thời phòng, chống âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và kích động gây chia rẽ dân tộc, chống Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân.

Năm là, xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ dân vận; đổi mới phương thức công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chăm lo kiện toàn ban dân vận các cấp đủ số lượng, cơ cấu, chất lượng theo các quy định. Bảo đảm tỉ lệ hợp lý cán bộ là người dân tộc thiểu số trong các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận, đoàn thể, nhất là cán bộ chuyên trách công tác dân vận; lựa chọn và bố trí ít nhất có một cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số. Chú trọng công tác luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng một cách hợp lý đội ngũ cán bộ dân vận là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ vùng đặc biệt khó khăn và cán bộ đã trải qua công tác ở vùng biên giới. Thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ dân vận cho cán bộ làm công tác dân vận. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và cán bộ làm công tác dân vận phải thực hiện phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”[2], “nghe dân nói”, “nói dân hiểu”, “hướng dẫn dân làm”, “làm dân tin” và phương châm “chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, hiệu quả”[3]. Có chính sách, chế độ đặc thù đối với cán bộ ban dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

----------------------

[1] Trích “Dân vận” đăng trên báo Sự thật ngày 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh

[2] Trích Bài học “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

[3] Trích Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường và đổi mới công tác dân vận ở vùng dân tộc thiểu số