Phòng, chống lãng phí - yêu cầu cấp thiết
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”[1]. Quan điểm đó cho thấy lãng phí không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề chính trị, đạo đức công vụ, kỷ luật của bộ máy công quyền và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, yêu cầu huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước trở nên cấp thiết. Trong điều kiện nguồn lực quốc gia còn hữu hạn, nếu để lãng phí kéo dài sẽ không chỉ làm thất thoát tài sản công mà còn triệt tiêu động lực phát triển, làm suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia và ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: “Tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó phản ánh nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng về mối quan hệ hữu cơ giữa kiểm soát quyền lực với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và lãng phí.
Nếu tham nhũng là biểu hiện trực tiếp của sự tha hóa quyền lực nhằm vụ lợi cá nhân, thì lãng phí là biểu hiện của sự yếu kém trong quản trị quyền lực, sử dụng nguồn lực thiếu trách nhiệm, kém hiệu quả hoặc không đúng mục tiêu phát triển. Trong nhiều trường hợp, lãng phí nguy hiểm ở chỗ diễn ra âm thầm, kéo dài, khó lượng hóa đầy đủ nhưng để lại hậu quả lớn đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.
Nếu tham nhũng là biểu hiện trực tiếp của sự tha hóa quyền lực nhằm vụ lợi cá nhân, thì lãng phí là biểu hiện của sự yếu kém trong quản trị quyền lực, sử dụng nguồn lực thiếu trách nhiệm, kém hiệu quả hoặc không đúng mục tiêu phát triển.
Trong điều kiện chuyển đổi số và môi trường thông tin mở hiện nay, những biểu hiện lãng phí như dự án chậm tiến độ, đầu tư dàn trải, đất đai bỏ hoang, tài sản công sử dụng kém hiệu quả, thủ tục hành chính kéo dài, né tránh trách nhiệm, “sợ sai không dám làm”… dễ dàng lan truyền trên không gian mạng, tác động trực tiếp đến nhận thức xã hội và niềm tin của nhân dân đối với bộ máy công quyền.
Các thế lực thù địch, phản động thường lợi dụng những yếu kém trong quản lý, điều hành, những vụ việc thất thoát, lãng phí lớn để xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động tâm lý hoài nghi, phủ nhận thành quả cách mạng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, phòng, chống lãng phí hiện nay không chỉ là yêu cầu quản trị kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Lãng phí - biểu hiện nguy hiểm của sự buông lỏng kiểm soát quyền lực
Lãng phí hiện nay không còn chỉ biểu hiện ở thất thoát tiền bạc, tài sản hữu hình mà đã mở rộng sang nhiều dạng thức mới, gắn trực tiếp với chất lượng thực thi quyền lực và hiệu quả quản trị quốc gia. Một trong những biểu hiện nổi bật là tình trạng đầu tư công dàn trải, nhiều dự án chậm tiến độ, kéo dài qua nhiều năm, làm gia tăng chi phí xã hội, giảm hiệu quả đầu tư và bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Không ít công trình sau khi hoàn thành hoạt động kém hiệu quả hoặc không phát huy được mục tiêu như kỳ vọng gây lãng phí lớn về ngân sách, đất đai và nguồn lực xã hội. Bên cạnh đó là tình trạng lãng phí trong quản trị hành chính và thực thi công vụ.
Ở nhiều nơi vẫn tồn tại biểu hiện thủ tục rườm rà, phối hợp thiếu trễ, né tránh trách nhiệm, đùn đẩy công việc. Đây là dạng lãng phí đặc biệt nguy hiểm vì làm mất thời cơ phát triển, làm giảm niềm tin của người dân và doanh nghiệp, đồng thời tạo tâm lý trì trệ trong bộ máy. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh phải khắc phục tình trạng “sợ sai không dám làm”, né tránh trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức.
Một biểu hiện khác là lãng phí trong hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện. Có chủ trương đúng nhưng triển khai chậm, thiếu quyết liệt; có nơi chạy theo phong trào, tư duy nhiệm kỳ, đầu tư để tạo dấu ấn cá nhân hơn là vì hiệu quả lâu dài cho xã hội, cho đất nước. Đây chính là hệ quả của việc quyền lực không được kiểm soát đầy đủ, trách nhiệm cá nhân chưa được xác định rõ ràng.
Có thể thấy, lãng phí thực chất là biểu hiện của sự buông lỏng kiểm soát quyền lực, là hệ quả của cơ chế quản lý thiếu minh bạch, trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng và hiệu lực kiểm tra, giám sát hạn chế.
Lãng phí kéo dài sẽ làm suy giảm nguồn lực phát triển quốc gia. Một đất nước không thể phát triển nhanh và bền vững nếu nguồn lực công bị phân tán, sử dụng kém hiệu quả và chi phí xã hội ngày càng gia tăng. Lãng phí làm tha hóa đội ngũ cán bộ. Môi trường quản trị lỏng lẻo, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả sẽ dẫn đến tư duy hình thức, làm việc cầm chừng, miễn không vi phạm trực tiếp để bị xử lý. Lãng phí làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Trong nhiều trường hợp, điều khiến nhân dân bức xúc không chỉ là thiệt hại vật chất, mà là cảm giác nguồn lực của quốc gia không được sử dụng đúng mục tiêu và hiệu quả.
Có thể thấy, lãng phí thực chất là biểu hiện của sự buông lỏng kiểm soát quyền lực, là hệ quả của cơ chế quản lý thiếu minh bạch, trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng và hiệu lực kiểm tra, giám sát hạn chế.
Phòng, chống lãng phí gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới
Nghị quyết số 35-NQ/TW và Kết luận số 89/KL-TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn của công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới.
Trong điều kiện hiện nay, nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ được bảo vệ bằng đấu tranh lý luận, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà còn phải được bảo vệ bằng hiệu quả thực tế của công tác lãnh đạo, quản lý và quản trị quốc gia.
Một đảng cầm quyền muốn giữ vững vai trò lãnh đạo phải chứng minh được năng lực tổ chức thực tiễn, khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia, đồng thời xây dựng được bộ máy liêm chính, hành động và phục vụ nhân dân.
Khi lãng phí kéo dài, quản trị yếu kém, trách nhiệm không rõ ràng, hiệu quả công vụ thấp, thì không chỉ nguồn lực quốc gia bị thất thoát mà niềm tin chính trị của nhân dân cũng bị ảnh hưởng. Đây chính là “điểm dễ tổn thương” để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá.
Ngược lại, nếu Đảng quyết liệt chống lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư công, tinh gọn bộ máy, quản lý chặt chẽ tài sản công, xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu và xây dựng nền hành chính minh bạch, hiệu quả, thì đó là minh chứng sinh động cho bản chất cách mạng, khoa học và vì dân của Đảng.
Do đó, phòng, chống lãng phí cần được đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, việc kiểm soát quyền lực nhằm ngăn ngừa lãng phí cần được thực hiện đồng bộ, hiệu quả một số giải pháp trọng tâm, đột phá.
Một đảng cầm quyền muốn giữ vững vai trò lãnh đạo phải chứng minh được năng lực tổ chức thực tiễn, khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia, đồng thời xây dựng được bộ máy liêm chính, hành động và phục vụ nhân dân.
Một là, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực gắn với phòng, chống lãng phí. Đây là giải pháp có tính nền tảng và chiến lược lâu dài. Cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quản lý đầu tư công, tài sản công, đất đai, tài nguyên, ngân sách, đấu thầu, đấu giá và quản trị dữ liệu. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong mọi lĩnh vực, quyền lực càng cao thì giám sát phải càng chặt chẽ.
Đổi mới mạnh mẽ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán theo hướng chủ động phòng ngừa, giám sát thường xuyên ngay từ khi ban hành chủ trương, chính sách; tăng cường tự kiểm tra, giám sát ngay từ cơ sở, từ chi bộ; siết chặt các quy định phòng ngừa lãng phí, quán triệt tư duy hạch toán kinh tế trong sử dụng các nguồn lực nhà nước; chấm dứt đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, sớm giải quyết dứt điểm các công trình, dự án chậm tiến độ.
Mọi quyền lực liên quan đến phân bổ nguồn lực công phải được ràng buộc bằng trách nhiệm giải trình, cơ chế giám sát và chế tài xử lý rõ ràng; không để tình trạng “quyền quyết định lớn nhưng trách nhiệm nhỏ”. Đặc biệt, cần lượng hóa trách nhiệm người đứng đầu đối với các dự án chậm tiến độ, kém hiệu quả hoặc gây thất thoát, lãng phí kéo dài; xử lý nghiêm cả trách nhiệm pháp lý lẫn trách nhiệm chính trị.
Hai là, đổi mới tư duy phát triển theo hướng hiệu quả, thực chất và bền vững. Muốn chống lãng phí hiệu quả phải chống được bệnh hình thức, bệnh thành tích và tư duy nhiệm kỳ. Mọi chủ trương đầu tư phải lấy hiệu quả tổng thể, hiệu quả dài hạn và lợi ích của nhân dân làm trung tâm; kiên quyết loại bỏ các dự án thiếu tính khả thi, đầu tư dàn trải hoặc chạy theo phong trào. Trong đánh giá phát triển địa phương cần chuyển mạnh từ tư duy “chi bao nhiêu” sang “tạo ra giá trị gì”, từ số lượng công trình sang chất lượng tăng trưởng và hiệu quả xã hội.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số để kiểm soát quyền lực và triệt tiêu môi trường phát sinh lãng phí. Chuyển đổi số phải trở thành công cụ chiến lược để phòng, chống lãng phí. Cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu liên thông về đầu tư công, tài sản công, đất đai, quy hoạch, ngân sách, đấu thầu và quản lý cán bộ; bảo đảm mọi quyết định phân bổ nguồn lực được số hóa, công khai và truy vết trách nhiệm. Khi dữ liệu minh bạch và kết nối đồng bộ, sẽ giảm đáng kể tình trạng xin-cho, đầu tư cảm tính, cục bộ địa phương và lợi ích nhóm.
Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán. Công tác kiểm tra phải chuyển mạnh từ xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa, cảnh báo rủi ro và kiểm soát từ sớm, từ xa. Các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán cần tập trung vào các lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ thất thoát, lãng phí lớn như đầu tư công, đất đai, tài nguyên, chuyển đổi số, các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án hạ tầng quy mô lớn. Đồng thời, phải tăng cường kiểm tra trách nhiệm thực thi công vụ, trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực của người đứng đầu.
Năm là, xây dựng văn hóa tiết kiệm, liêm chính và trách nhiệm trong toàn hệ thống chính trị. Phòng, chống lãng phí muốn bền vững phải trở thành giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức công vụ. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ rằng lãng phí nguồn lực của Nhà nước cũng là có lỗi với nhân dân.
Người cán bộ cách mạng không chỉ cần liêm khiết mà còn phải sử dụng hiệu quả từng đồng ngân sách, từng mét vuông đất đai và từng giờ làm việc công. Cần đưa nội dung thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vào tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên hằng năm; xem đây là thước đo quan trọng của năng lực quản trị và tinh thần trách nhiệm.
Người cán bộ cách mạng không chỉ cần liêm khiết mà còn phải sử dụng hiệu quả từng đồng ngân sách, từng mét vuông đất đai và từng giờ làm việc công. Cần đưa nội dung thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vào tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên hằng năm; xem đây là thước đo quan trọng của năng lực quản trị và tinh thần trách nhiệm.
Sáu là, phát huy vai trò giám sát của nhân dân, báo chí, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Thực tiễn cho thấy nơi nào công khai, minh bạch tốt thì nơi đó lãng phí giảm. Do đó, cần mở rộng cơ chế để nhân dân tham gia giám sát đầu tư công, quản lý đất đai, tài sản công và ngân sách; đồng thời phát huy vai trò của báo chí cách mạng trong phát hiện, phản biện và cảnh báo sớm các nguy cơ lãng phí. Song song với đó, phải bảo vệ những cán bộ dám đấu tranh với biểu hiện lãng phí, lợi ích nhóm; khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Bảy là, đối với các chi bộ và tổ chức đảng cơ sở, phòng, chống lãng phí phải được cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực, tránh hình thức. (1) Cần đưa nội dung thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vào sinh hoạt chi bộ thường kỳ gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. (2) Tăng cường tự phê bình và phê bình đối với các biểu hiện hình thức, thiếu trách nhiệm, sử dụng thời gian công và tài sản công kém hiệu quả. (3) Rà soát, cắt giảm các cuộc họp không cần thiết, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong điều hành và xử lý công việc. (4) Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý tài chính, tài sản, đầu tư và mua sắm tại cơ quan, đơn vị. (5) Đánh giá cán bộ, đảng viên bằng hiệu quả công việc thực chất, bằng sản phẩm cụ thể và sự hài lòng của nhân dân; không chạy theo báo cáo thành tích hoặc hình thức.
Muốn đất nước phát triển nhanh và bền vững, muốn hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, nhất thiết phải xây dựng được một nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch, liêm chính, hiệu lực, hiệu quả; ở đó mọi quyền lực đều được kiểm soát chặt chẽ, mọi nguồn lực đều được sử dụng đúng mục tiêu và vì lợi ích của nhân dân.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, H.2011, t.7, tr.357.