Diễn ra sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, và Chính phủ đang có chính sách đẩy nhanh hơn nữa việc thực thi bảo vệ bản quyền phần mềm trong giai đoạn tới, nhiều ý kiến thảo luận sôi nổi về phần mềm nguồn mở và bản quyền phần mềm đã được đề cập tại Hội thảo quốc gia về phần mềm nguồn mở lần thứ 4 với chủ đề “Từ chính sách đến hiện thực” do Bộ Khoa học và Công nghệ vừa tổ chức ngày 6-12 tại Hà Nội.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Khoa học – Công nghệ Bùi Mạnh Hải cho biết, phần mềm nguồn mở được xem như một giải pháp nhằm giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Để tận dụng những cơ hội mà phần mềm nguồn mở mang lại, ngày 2-3-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 235/QĐ-TTg phê duyệt Dự án tổng thể “Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008" và giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì triển khai thực hiện.
Thực hiện Quyết định này, trong thời gian qua, nhiều tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng công nghệ thông tin đã triển khai các hoạt động liên quan đến ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa như mong đợi và việc triển khai thực hiện còn chậm.
| Thứ trưởng KH-CN Bùi Mạnh Hải. |
Dù mở hay đóng, phải khơi dậy sức sáng tạo của người Việt Nam
Thay mặt cơ quan chủ quản trong lĩnh vực CNTT, Thứ trưởng Bưu chính – Viễn thông Vũ Đức Đam cho rằng, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, vấn đề cơ hội và thách thức của CNTT Việt Nam khi tham gia WTO được rất nhiều người quan tâm. Trong đó cam kết về thực hiện Hiệp định Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) có thể nói là một thách thức của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này.
Ba bộ ngành là BC-VT, KH-CN và VH-TT đã đi đến thống nhất rằng, việc bảo vệ bản quyền phần mềm không chỉ nhằm thực hiện cam kết bắt buộc của Việt Nam khi gia nhập WTO, mà quan trọng hơn là để cải thiện hình ảnh Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài, tranh thủ sự tham gia đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau của các tập đoàn đa quốc gia. Thêm nữa, việc tôn trọng bản quyền là một giải pháp chủ yếu để chúng ta phát triển công nghiệp phần mềm nói chung, trong đó có phần mềm mã nguồn mở.
Về việc phát triển phần mềm nguồn mở (PMNM), Thứ trưởng Vũ Đức Đam cho rằng, thứ nhất chúng ta phải có tầm nhìn tổng quan, dài hạn từ cơ chế chính sách mã nguồn mở cho đến các khuyến nghị về mặt kỹ thuật dựa trên các chuẩn mở.
Ông nhấn mạnh, chúng ta quyết không đẩy mã nguồn mở “đối diện” rồi đi đến “đối đầu” với mã nguồn đóng, mà dù đóng hay mở thì cũng phải khơi dậy tinh thần sáng tạo của người Việt Nam để phần mềm phải được làm ra bởi người Việt Nam và được sử dụng tại Việt Nam.
Theo ông, xu hướng trên thế giới là những phần mềm đóng đang “mở” dần ra và những phần mềm mở “đóng” lại thành những phần mềm thương phẩm và chúng đang chung sống với nhau. Vì thế, mục tiêu của chúng ta là phải tạo ra tư thế lựa chọn công bằng cho người sử dụng, dù là “đóng” hay “mở”, dù là bán hay cho không.
Giải pháp ông đề xuất đó là : phát huy tính cộng đồng trong việc ứng dụng PMNM và tránh khuynh hướng đóng những mã nguồn mở đang khá phổ biến ở nước ngoài. Mặt khác, phải có giải pháp tạo thói quen sử dụng PMNM ngay trong các trường từ phổ thông cho đến ĐH. Lâu nay, HS, SV Việt Nam đã quen với phần mềm “đóng” từ màu sắc, âm thanh, đến kỹ năng. Việc để giới trẻ bắt đầu làm quen PMNM từ trong nhà trường sẽ giúp họ có sự so sánh và lựa chọn công bằng sau này.
Thực tiễn 2 năm ứng dụng PMNM qua những con số
Dẫn báo cáo từ cuộc điều tra mẫu được tiến hành từ tháng 9 đến nay, ông Đỗ Trung Quỳnh, Văn phòng CNTT, Bộ KH-CH cho biết, có 91 % DN phát triển và cung cấp sản phẩm dịch vụ phần mềm đã cung cấp dịch vụ PMNM dưới các hình thức sản phẩm như: Hệ điều hành và ứng dụng máy chủ, Hệ quản trị, Cổng thông tin, Quản lý doanh nghiệp… Trong đó, đối tượng sử dụng PMNM nhiều nhất là DN tư nhân, chiếm 30%, sau đó mới đến cơ quan nhà nước (24%), DN nhà nước (22%), trường học (19%).
Trong số 65 bộ ngành và địa phương tham gia điều tra, có 50 đơn vị, chiếm 77% có kế hoạch, đã, hoặc đang sử dụng PMNM. Tuy nhiên, quy mô còn nhỏ, lớn nhất là 270 máy trạm, 50 máy chủ
Trong số 46 DN tham gia khảo sát, chỉ có 33 DN đang dùng PMNM. Nguyên nhân là do chưa hiểu biết về PMNM, hoặc hiểu biết nhưng chưa tin tưởng, và đa số là do không được giới thiệu đề xuất sử dụng PMNM.
Có 46 trường tham gia điều tra này, trong đó 33 trường đại học và 13 trường cao đẳng. Kết quả, có 21/33 trường ĐH đã tiếp cận và đưa PMNM vào giảng dạy chiếm 64% và 21 trường này đã tham gia thi Olympic Tin học hằng năm về PMNM. 6/21 trường này có hơn 50% sinh viên CNTT được tiếp cận và đào tạo về PMNM, 16/21 trường đã có sinh viên tham gia cộng đồng PMNM, trong đó có ba trường đã thành lập câu lạc bộ sinh viên về PMNM.
Ông Quỳnh cũng cho biết, năm trường ĐH đi đầu trong tiếp cận và đào tạo PMNM là: Trường đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường đại học Khoa học, tự nhiên TP Hồ Chí Minh, Trường đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Cần Thơ, Viện Tin học Pháp ngữ (IFI).
Theo điều tra, khó khăn mà các đơn vị gặp phải khi ứng dụng PMNM đó là: PMNM chưa tương thích hoàn toàn với nguồn đóng, khách hàng chưa quen với trả phí dịch vụ cho những sản phẩm PMNM, và còn ít các sản phẩm PMNM đáp ứng yêu cầu khách hàng. Người tiêu dùng thì chưa có thói quen sử dụng PMNM, thiếu thông tin, thiếu nhân lực…
Thực tế là các doanh nghiệp ứng dụng PMNM còn rất khiêm tốn dù có những đơn vị đã triển khai rất thành công như Ngân hàng Sacombank. Ông Tào Thành Danh, Phó tổng giám đốc Sacombank cho biết: Từ năm 2004, Sacombank đã nghiên cứu giải pháp và chọn lựa Open Office sau đó viết tài liệu, triển khai tập huấn và dùng thí điểm. Ngân hàng đã tiết kiệm được mỗi năm khoảng 831.682 USD nếu phải mua bản quyền phần mềm MS Offcie cho trên 2.000 máy tính. Và số lượng máy tính do đặc thù sử dụng chức năng cao cấp từ MS Office phải mua là con số không đáng kể.
| Ông Hoàng Lê Minh. |
Bên lề hội thảo, ông Hoàng Lê Minh, Phó giám đốc Sở BC-VT TP Hồ Chí Minh cho biết, ở TP, trong các đơn vị nhà nước có khoảng 300.000 máy tính, các DN ở TP Hồ Chí Minh cũng có hơn 1 triệu máy tính, nếu chúng tôi đi theo con đường Sacombank đã làm thì số tiền tiết kiệm được sẽ rất lớn. Kinh nghiệm của Sacombank và những đơn vị ứng dụng thành công nếu được phổ biến rộng rãi sẽ là kinh nghiệm rất tốt cho những địa phương và đơn vị khác. Chỉ cần 20% chuyển đổi sang sử dụng PMNM thì đã rất tốt rồi.
Và những đề xuất…
Với tiêu đề “Xã hội hóa PMNM”, ông Nguyễn Long, Tổng Thư ký Hội Tin học Việt Nam cho rằng, Việt Nam còn nghèo, chúng ta nên tận dụng những gì phù hợp khả năng của mình để phát triển CNTT. Xã hội hoá ứng dụng PMNM, hình thành cộng đồng PMNM rộng khắp trên cả nước, có Hiệp hội người sử dụng PMNM, hình thành các trung tâm cấp chứng chỉ trình độ sử dụng PMNM và cả tạp chí về PMNM là định hướng từ nhiều năm trước của ngành CNTT Việt Nam mà chưa được triển khai.
Đồng ý với Thứ trưởng Vũ Đức Đam, ông Long cũng quan niệm PMNM không phải để tiêu diệt phần mềm thương phẩm mà là để hỗ trợ lẫn nhau,
Về việc thực thi Hiệp định Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs), ông Long kiến nghị Nhà nước phải đi đầu thực hiện với lộ trình phù hợp bằng cách nghiên cứu lộ trình, lựa chọn đa công nghệ, tránh đấu thầu độc quyền, cử đầu mối đàm phán, tránh mỗi Bộ, ngành tự đàm phán riêng để đối thủ lợi dụng.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy nâng cao nhận thức và ý thức tiết kiệm cho đất nước trong tiến trình hội nhập bằng cách ứng dụng và phát triển các sản phẩm trong nước làm ra, khuyến khích sử dụng miễn phí các phần mềm có tính năng tương đương như Open Office, phần mềm nguồn mở, tăng cường ứng dụng chuẩn mở theo xu hướng công nghệ mới của Web 2.0 như Google, Yahoo, Sun, Oracle đang làm.
Theo điều tra của Bộ KH-CN mà ông Đỗ Trung Quỳnh công bố, các đơn vị ứng dụng PMNM đề xuất: Nhà nước cần hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức người dùng, cần có sự quan tâm của lãnh đạo; hỗ trợ đào tạo; nâng cao nhận thức; sự sẵn sàng cao của các sản phẩm, giới thiệu quảng bá, hỗ trợ đào tạo người dùng đầu cuối. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có kế hoạch và hướng dẫn đối với các trường trong việc ứng dụng PMNM.
Từ một sáng kiến của cộng đồng, PMNM đã có được sự quan tâm của quốc gia bằng quyết định Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở của Thủ tướng Chính phủ. Sau hai năm thực hiện, những đề xuất tại Hội thảo sẽ được tập hợp lên Bộ KH-CN và BC-VT để có bước phát triển tiếp theo, đó chính là ý nghĩa của Hội thảo quốc gia về phần mềm nguồn mở lần thứ 4 với chủ đề “Từ chính sách đến hiện thực”.