Nhiều làng nghề ô nhiễm nghiêm trọng

ND - Nước ta hiện có 1.450 làng nghề, chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Hồng. Với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8%, sự phát triển của các làng nghề đã góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương, làm thay đổi đời sống và bộ mặt nhiều vùng nông thôn. Tuy nhiên, đây cũng là nguyên nhân quan trọng khiến môi trường tại khu vực làng nghề ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng.

Hầu hết các làng nghề đều tập trung tại vùng nông thôn. Ở nhiều vùng, đây là những "tác nhân" chủ yếu gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. Phần lớn các hộ, cơ sở sản xuất ở làng nghề sử dụng ngay diện tích ở làm nơi sản xuất. Khi quy mô sản xuất tăng lên tỷ lệ thuận với thiết bị, hóa chất trong sản xuất được sử dụng nhiều hơn, làm cho môi trường sống bị ô nhiễm.

Tại các làng nghề, nước thải phần lớn đều không được xử lý và thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng. 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều có thông số vượt quá tiêu chuẩn cho phép; nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm.

Chế biến lương thực thực phẩm, tái chế, dệt nhuộm được coi là một trong những làng nghề có mức độ gây ô nhiễm môi trường khủng khiếp nhất. Ðơn cử như làng nghề sản xuất giấy tái chế Phú Lâm và Phong Khê (Bắc Ninh), mỗi năm sản xuất ra gần 20 nghìn tấn sản phẩm thì xả ra môi trường khoảng 1.500 m3 nước thải mỗi ngày. Nước thải chứa lượng lớn các hóa chất độc hại như xút, thuốc tẩy, phèn kép, nhựa thông và phẩm mầu... với hàm lượng BOD5 (nhu cầu ôxy sinh hóa) và COD (nhu cầu ôxy hóa học) vượt 4 - 6 lần tiêu chuẩn cho phép.

Chế biến nông sản, thực phẩm có nhu cầu lớn về nước nhưng cũng thải ra một lượng nước không nhỏ, với đặc tính chung là giàu chất hữu cơ, dễ phân hủy sinh học. Nước thải được xả thẳng ra ngoài mà không qua bất kỳ khâu xử lý nào, chúng tồn đọng ở cống rãnh, gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm môi trường đất, suy giảm chất lượng nước ngầm.

Thí dụ nước thải của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn có hàm lượng ô nhiễm rất cao (COD 13.300 - 20.000mg/lít; BOD - nhu cầu ôxy sinh - hóa học 5.500 - 125.000mg/lít). Tại làng nghề sản xuất nước mắm Hải Thanh (Thanh Hóa), mức độ ô nhiễm COD lên tới 186mg/lít, trong khi tiêu chuẩn cho phép là 25mg/lít.

Một số làng nghề như sắt thép Dục Tú (Ðông Anh), Xuân Ðỉnh (Từ Liêm) nguồn nước thải kéo theo nhiều dầu mỡ và các chất hóa học không qua xử lý khiến chất lượng nước ngầm bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tại những xã này, hàm lượng COD vượt tiêu chuẩn cho phép 3-4 lần, hàm lượng dầu mỡ lên tới 2,2 mg/lít so với tiêu chuẩn cho phép là 0,3mg/lít. Nhiều làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm... nước thải cống chung tại khu vực sản xuất chứa hàm lượng BOD5 rất cao, có khi lên tới 2.003 mg/lít, như làng nghề bún thôn Ðoài (Bắc Ninh) hoặc hàm lượng COD cao gấp 3,2-8,93 lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Ðó là chưa kể tình trạng ô nhiễm không khí chủ yếu tập trung ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm, sứ, nhựa... Thực tế hầu hết các làng nghề hiện nay, nhiên liệu đốt dùng phổ biến là than củi và than đá nên ô nhiễm môi trường không khí do việc sử dụng nhiên liệu thông qua các sản phẩm cháy là rất lớn.

Kết quả quan trắc tại các làng nghề các chỉ tiêu như: BOD, COD, SS đều lớn hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn, các chất này không được xử lý khi thải ra môi trường sẽ phát sinh rất nhiều các chất ô nhiễm thứ cấp dạng khí: CH4, H2S, NH3... và là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh phát triển. Dân cư làng nghề và cả các xã khác đều phải sống chung với khói bụi, hơi nóng và khí thải độc hại của các làng nghề này. Ước tính tải lượng ô nhiễm không khí do đốt than để nung vôi, nung gốm, sứ từ hàng trăm lò thủ công lên tới hàng triệu m3 khí độc.

Môi trường nước và không khí bị ô nhiễm tại các làng nghề đã tác động không nhỏ tới sức khoẻ của người lao động. Các bệnh nghề nghiệp như đường hô hấp, đau mắt, suy nhược thần kinh, bệnh ngoài da, đường ruột ngày càng gia tăng. Một số làng nghề có đặc thù sản xuất dẫn tới các bệnh mãn tính nguy hiểm như ung thư, quái thai, nhiễm độc kim loại nặng. Thậm chí, nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề cũng bị ô nhiễm nặng, nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm khí từ các làng nghề.

Ðể có thể mở rộng ứng dụng cho các làng nghề sản xuất, nhiều nhà khoa học cho rằng, vấn đề quan trọng nhất là ý thức của nhà sản xuất trong khi chưa có một quy chế mang tính pháp lý xử lý môi trường các làng nghề Việt Nam. Các làng nghề phải quan tâm tới công tác quy hoạch phát triển công nghiệp địa phương, nghĩa là cần có tầm nhìn tổng thể đến phát triển các ngành nghề nông thôn, ưu tiên củng cố và đầu tư cơ sở hạ tầng, xưởng sản xuất, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, vệ sinh môi trường.

Trên thực tế, dù hoạt động bảo vệ môi trường của Việt Nam những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến, nhưng đối với công tác xử lý ô nhiễm làng nghề thì mới chỉ là bước đầu. Nhiều nhà khoa học đã vào cuộc và nghiên cứu, ứng dụng thành công nhiều công trình khoa học vào xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề, nhưng sự lan tỏa chưa cao. Nhiều mô hình trình diễn đã được thử nghiệm, nhưng sau khi dự án hết thì các hộ sản xuất lại trở về thời điểm ban đầu chưa có dự án.

Chủ một cơ sở tái chế giấy ở ngoại thành Hà Nội cho biết: "Chúng tôi được một dự án thông qua Viện Công nghệ môi trường - Trường đại học Bách Khoa tài trợ cho thiết bị xử lý ô nhiễm bụi nhưng chúng tôi cũng không muốn sử dụng bởi vì sử dụng thiết bị đó một tháng chúng tôi phải tốn thêm 300.000 đồng tiền điện trong khi các cơ sở sản xuất khác vẫn xả nước thải, khí bụi ra môi trường mà họ đâu có làm sao".

Theo Giáo sư - Tiến sĩ Ðặng Kim Chi - Phó Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ môi trường, cần phải xây dựng quy hoạch không gian làng nghề gắn với bảo vệ môi trường, lấy quản lý cấp xã làm nòng cốt trong hệ thống quản lý môi trường, giáo dục nâng cao hiểu biết cho người dân làng nghề để họ nhận thức thấy cái giá phải trả do ô nhiễm môi trường đắt gấp nhiều lần so với lợi nhuận kinh tế đem lại.

Ðể từ đó họ thay đổi nhận thức dẫn đến thay đổi hành vi, chung tay bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, các làng nghề cũng cần phải tiếp cận với những giải pháp kỹ thuật, công nghệ sản xuất sạch hơn nhằm phòng ngừa phát sinh chất thải và biện pháp xử lý chất thải. Trong giai đoạn hiện nay, mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất của làng nghề đạt tới mức độ cao, đòi hỏi có sự can thiệp của Nhà nước về mặt thể chế, chính sách để làng nghề phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, cần nhanh chóng có biện pháp xử lý thích hợp đối với các làng nghề gây ô nhiễm môi trường. Theo PGS.TS Trương Mạnh Tiến: Sắp tới, công tác hỗ trợ cho vay các dự án xử lý ô nhiễm tại các làng nghề sẽ được quỹ ưu tiên. Bên cạnh thành công của dự án hỗ trợ cho vay thay đổi công nghệ lò gốm đốt than sang lò gốm đốt gas tại làng gốm Bát Tràng - Hà Nội, thời gian tới các địa phương có nhiều làng nghề ô nhiễm như: Bắc Ninh, Bến Tre, Quảng Nam và đặc biệt là Hà Nội sau khi sáp nhập Hà Tây sẽ trở thành địa phương có số làng nghề cao nhất của cả nước sẽ được ưu tiên giải quyết.

Với đặc thù làng nghề của Việt Nam người dân chỉ chấp nhận thay đổi công nghệ mới dễ vận hành, chi phí đầu tư thấp, các lao động đều có thể tham gia, diện tích nhỏ... nên để người dân có thể tuân thủ và chấp nhận thay đổi thói quen sản xuất thì Luật Bảo vệ môi trường phải được sửa đổi, phải bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, các vấn đề về chế tài và thực thi pháp luật phải được thực hiện triệt để. Có như vậy, các làng nghề của nước ta mới thật sự phát triển hiệu quả và bền vững.

Có thể bạn quan tâm