Tôi nhìn xuống thung sâu vời vợi, rồi ngước lên dãy núi cao chất ngất có mây trắng che mờ đỉnh núi cũng chẳng thấy một lối mòn sợi chỉ nào giăng qua, nói chi đến đường quan vừa rộng vừa dài nhìn thẳng tận chân trời như dưới xuôi. Tất cả đều ảo huyền trong một mầu mây trắng bồng bềnh ở giữa một rừng xanh ngút ngàn thăm thẳm cổ xưa. Ðây là một trong những dãy núi chót cùng của Tây Bắc nghìn trùng, một chốn sơn cùng, thủy tận.
Thời tiết đang hạ mà ở đây khí hậu gần như cuối thu. Lạnh và se.
Những năm qua, nhất là từ khi tách tỉnh Lai Châu và Ðiện Biên (1-1-2004), cùng với các cấp, các ngành của địa phương, Bộ đội Biên phòng Lai Châu đã tham gia có hiệu quả vào việc củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm quốc phòng- an ninh ở các xã biên giới. Bộ mặt kinh tế - xã hội các xã biên giới đã có những tiến bộ: cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm, hệ thống kênh mương tưới tiêu nước sạch... được đầu tư xây dựng, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân biên giới. Trong đó có một số mô hình có hiệu quả như đã xây dựng 38 nhà đại đoàn kết trên địa bàn 21 xã biên giới đặc biệt tập trung xây dựng 18 nhà cho đồng bào La Hủ ở hai bản Hà Si, Hà Nê xã Pa Ủ huyện Mường Tè. Ðồng bào La Hủ được Nhà nước hỗ trợ mỗi khẩu mỗi tháng được 10 ki-lô-gam gạo. Bà con La Hủ hai bản Hà Si, Hà Nê dưới sự giúp đỡ của các ban, ngành và Bộ đội Biên phòng đã ổn định cuộc sống đã được chăm sóc y tế, được học chữ phổ thông.
Ðêm qua khi trò chuyện với cán bộ Ðồn Biên phòng Thu Lũm, anh Nguyễn Tiến Ngọc - Ðồn trưởng - giới thiệu sơ qua về thủy thổ bản Là Si và một số đặc điểm của tộc người La Hủ. Bản Là Si trước thuộc xã Ka Lăng nay vừa mới chuyển về cho Thu Lũm. Bản thuộc vùng cực sâu, cực xa. Bản có địa hình hiểm trở, có ruồi vàng, bọ chó, sên vắt. Riêng ruồi vàng cắn vào người có thể sinh ra lở loét rất khó chữa, nên bắt buộc mọi người phải đi tất và mặc áo tay dài. Ðêm nhất thiết phải ngủ màn. Ðường đi bộ đến bản đi khoảng bốn tiếng đồng hồ.
Tôi nghĩ đi bộ bốn tiếng đồng hồ mình cũng có thể đi được. Song thực tế diễn ra không phải như vậy! Ðoàn công tác xuất phát ở đồn Thu Lũm 8 giờ sáng mà phải đến một giờ chiều mới lên được đỉnh núi Là Si. Mà cũng chỉ có nửa Ðoàn cán bộ chiến sĩ công tác và tám người dân bản Ló Na giúp bộ đội chuyển hàng mới đến được đỉnh núi. Còn một nửa rớt lại phía sau.
Tôi chợt nghĩ, không hiểu sao tộc người La Hủ lại chọn những nơi sơn cùng thủy tận, núi non chênh vênh, dốc đèo heo hút thăm thẳm như thế này để sinh sống? Người La Hủ có nhiều tên gọi như: Xá Lá Vàng, Cò Xung, Khù Sung, Khả Quy, Cọ Sọ, Nê Thú. Nhóm địa phương có La Hủ na (đen), La Hủ sư (vàng), La Hủ phung (trắng).
Ở Việt Nam, người La Hủ, chủ yếu sống ở huyện Mường Tè. Ở Trung Quốc người La Hủ còn có tên là Lạp Hỗ. Người Lạp Hỗ ở Trung Quốc có khoảng hơn 410.000 người, chủ yếu sống ở Vân Nam. Thái-lan cũng có khoảng 25.000 người, họ là trong số 6 bộ tộc miền núi của nước Thái. Ở Lào theo số liệu điều tra năm 1985 có khoảng 15.618 người La Hủ sinh sống. Ngoài ra ở Mi-an-ma cũng có một số ít người La Hủ lập nghiệp. Chủ yếu sống ở vùng núi cao hiểm trở.
Sau gần bảy tiếng đồng hồ leo núi, chúng tôi đã đến được bản Là Si. Từ lưng chừng núi nghe tiếng chó sủa, bao nhiêu mệt nhọc như được tiêu tan. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Bước xuống độ ba mươi phút tôi thấy mấy cái nhà tranh vàng hoe loi nhoi hiện ra. Thật là mừng. Nếu đi tiếp hai giờ đồng hồ nữa thì còn nhiều người phải rớt lại đằng sau!
Là Si, bản của tộc người La Hủ, bản biên giới tột cùng phía bắc của Tổ quốc. Bản Là Si chót cao gần như bản Lũng Cú tột bắc bên Hà Giang. Bản Là có 100% là đồng bào dân tộc La Hủ với 41 hộ, 212 khẩu, đời sống sinh hoạt chủ yếu là tự cung, tự cấp, sống dựa vào thiên nhiên là chính. Tỷ lệ đói nghèo cũng là 100%. Dân bản hầu hết mù chữ và không nói được tiếng phổ thông.
Tôi chú ý quan sát người La Hủ và nhà cửa, chỗ ở cách sống của họ. Người La Hủ khác người Rục, người Vân Kiều quê tôi. Người Rục thấp đậm đen chắc còn mang nét người rừng. Người Vân Kiều to đậm, đen cháy, bắp cơ cuồn cuộn rắn như gỗ lim. Người La Hủ gầy mảnh, yếu đuối, da vàng vàng, nhạt nhạt. Bắp cơ, bắp chân không phát triển. Ðàn ông ngoài 20 tuổi mặt gầy hốc hác trông giống người Nguồn vùng Minh Hóa, Quảng Bình mà những năm học sơ tán ngoài bắc đi qua miền ấy tôi đã từng thấy. Nguyên do là họ thiếu lương thực, thực phẩm triền miên từ đời này sang đời khác nên mới có hình hài gầy nhẵng, mặt mũi ốm o, xương má, xương trán, xương chân xương tay, các khớp nhô ra như vậy.
Bản Là Si có bốn chòm, hai chòm nằm bên sườn núi Là Si, hai chòm nằm bên sườn núi A Ma Cồ. Núi A Ma Cồ cao không kém núi Là Si. Qua hết đỉnh A Ma Cồ là đến biên giới Việt - Trung. Bên kia là tỉnh Vân Nam. Chúng ta có bay trên cao cũng không nhận ra bản Là Si có người sinh sống. Một số nhà lẩn khuất dưới bóng rừng già không thể trông thấy, một số phơi ra trên những sườn núi cao chót vót như một cái chòi canh bỏ hoang. Giữa điệp trùng non thẳm, suối sâu làng bản như một dấu chân hoẵng lạc rơi giữa đại ngàn, có ai mà đến được và biết được ở đấy vẫn có con người sinh sống.
Rừng Là Si là rừng nguyên sinh, chưa có dấu người khai thác, nhưng người La Hủ làm nhà không dùng gỗ. Họ chỉ lấy tre, nứa, luồng làm cột kèo rui mè, rồi dùng tranh, lá chuối lợp lên trên mái để che mưa che nắng. Trong cái nhà sáu mét vuông ấy được chia làm hai nửa có thưng liếp nứa ngăn cách. Một nửa để ngủ, một nửa để làm bếp. Trên giàn bếp có treo một số da thú, chân thú nhỏ làm thức ăn khi rừng động. Khách khứa, ăn uống đều diễn ra tại đây. Nhìn quanh nhìn quách, trông lên ngó xuống, tôi không tìm ra một thứ gì đáng giá 10 nghìn đồng, trừ cái núc kiềng đã bị lửa ăn mòn qua bao mùa đông giá lạnh của cực bắc. Nét hiện đại duy nhất có ở bản Là Si là mấy cái quần, cái áo kiểu sơ-mi mua được ở các chợ biên giới.
Mấy hôm nay dân bản Là Si đi vắng khá nhiều. Người sang các bản thăm bà con, người đi chợ, kẻ đi nhận gạo Chính phủ. Tuy thế chòm The La Cồ còn có ông Pờ Lá Sả trưởng chòm và một số trẻ con, thiếu phụ ở nhà.
Mới 38 tuổi nhưng ông Pờ Lá Sả là già làng, trưởng bản. Vì ông để râu, vừa lại ăn uống đói kém thất thường quanh năm, rồi hút thuốc, uống rượu liên miên nên trông ông như ông lão sáu mươi. Mấy ngày ở Là Si tôi chỉ thấy ông hết hút thuốc là ngủ. Ông ngủ trong cái buồng kín như buồng đẻ rộng chỉ mét rưỡi vuông.
Mỗi năm hai vợ chồng ông Sả chỉ làm được 15 bao thóc, 30 bao ngô, khoảng một tạ đổ lại. Gia đình ông thiếu ăn thường xuyên, phải sống nhờ trợ cấp gạo của Chính phủ.
Bộ đội đã giúp người La Hủ bằng nhiều cách để đưa gạo tận từng nhà mà bà con không thể đổi rượu hoặc bán đổ trên đường đi nhận gạo. Bộ đội đã áp dụng ở Hà Si, Hà Nê và sẽ áp dụng ở Là Si bây giờ. Bộ đội sẽ tự mình chuyển gạo tiêu chuẩn của dân đến doanh trại của mình, hằng tháng phát cho đồng bào theo nhân khẩu. Có như thế đồng bào mới không đổi rượu, có như thế mới cứu đói được đồng bào.
Ðồng bào La Hủ đang thiếu dinh dưỡng một cách trầm trọng. Bao nhiêu đời thiếu ăn, thiếu mặc, giờ người La Hủ nhỏ hơn người dưới xuôi. Thanh niên của họ chỉ bằng thiếu niên người Kinh. Không chỉ người La Hủ mà các dân tộc miền núi như người Hà Nhì, người Dao, người Mông... đang ngày một thấp nhỏ hơn. Nguy cơ thoái hóa đến mức báo động.
Người Mông có câu hát rất hay: "Người giàu đi mãi thì thành kẻ nghèo, người nghèo đi mãi thì thành con ma rừng". Người La Hủ nếu còn đi nữa thì cũng rất dễ thành con ma rừng, đến một ngày không xa rất đáng ngại tộc người này sẽ như các loài chim, loài thú quý hiếm khác dần dần biến mất trên Trái đất.
Vì vậy, đề án cứu giúp người La Hủ ổn định dân cư, xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với bảo vệ chủ quyền biên giới là một đề án kịp thời mang nhiều ý nghĩa nhân sinh, xã hội lớn lao không chỉ có tầm quốc gia mà còn có cả tầm nhân loại!
Ðề án này được giao cho đồn Ka Lăng và Ðồn Thu Lũm trực tiếp thực hiện. Năm trước, điểm triển khai là hai bản Hà Si và Hà Nê. Hai bản có trăm phần trăm là người La Hủ. Những ngày triển khai dự án không chỉ cán bộ, chiến sĩ ở các đồn cơ sở mà ngay cán bộ lãnh đạo của Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Lai Châu thay nhau đến chỉ đạo trực tiếp tại hai bản Hà Si, Hà Nê. Với phong cách thực hiện "bốn cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào), bộ đội đã làm được 18 cái nhà lợp tôn cho đồng bào, đã mở được một lớp học (cả bản cùng đi học một lớp), một trạm xá. Ðồng bào hai bản định canh định cư, bước đầu làm lúa nước. Người La Hủ đã thoát đói. Ông già bà lão, trẻ con đã biết hát những bài ca truyền thống yêu nước bằng tiếng phổ thông.
Ðại tá Ðào Quang Mạnh, Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng Lai Châu tâm tình:
- Anh ạ! Nghe bà con trong bản từ già làng đến nhi đồng ngồi hát bài hát "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng", anh em chúng tôi cảm động rơi nước mắt. Thật tự hào với công sức mình bỏ ra giúp đồng bào. Chúng tôi nghĩ dù bản Là Si khó khăn hơn, hiểm trở hơn hai bản Hà Si, Hà Nê nhưng thành công ở hai bản Hà Si, Hà Nê và với quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng Lai Châu cùng sự hỗ trợ của các ban, ngành, chúng tôi sẽ thành công ở Là Si.
Năm giờ chiều ngày 27-5-2009, chiếc máng lấy nước sạch từ vách núi đá. Bữa cơm tối đầu tiên của quân dân đã được khai trương trong lán dã chiến, rộng khoảng 18 mét vuông được phủ bạt nhựa sọc đủ che mưa, che nắng cho gần 20 cán bộ chiến sĩ bộ đội có thể ăn ở lâu dài để giúp dân dựng nhà, làm trường học, trạm xá cho bà con La Hủ. Bà con La Hủ bản Là Si sẽ sinh sống đời đời nơi quê hương, bản làng của mình.
Mùi rượu ngô thơm nồng tận mũi gắn bó tình quân dân không sao nói hết nỗi cảm mến lòng người.
Chị Lì Zố Sừ cùng bảy anh chị em khác trong bản Lõ Na giúp bộ đội vận chuyển lương thực, thực phẩm vào bản Là Si được chúng tôi đề nghị chị hát lại bài hát "Bản Là Si" lúc
chiều khi vượt qua đỉnh dốc cao nhất. Lúc chiều tôi chưa rõ lời bài hát nghĩa như thế nào nhưng nghe giọng hát của chị Sừ và giai điệu thanh âm của nó thật hay, thật mượt mà, quyến rũ như bản Tình ca Tây Bắc.
Chị Sừ qua mấy giây rụt rè mới bắt đầu tự nhiên hát: "Là Si chu tề/Là tư mi chà/ Là tư Là Si mì/ Tha ki mì cha/ La Si su te nè/ Ngà tư mì cha mì/ Bộ đội mì cha mì/ Mì ma chu kho!..."
Thiếu úy Lừ Mù Chư phiên dịch lời bài hát cho chúng tôi nghe:
"Ðất Là Si này là đất của ta/ Ðất của ta, đất Là Si đất của người La Hủ/ Núi sông, đất đai của ta hết/ Bộ đội đến giúp, cuộc sống người La Hủ thêm đẹp tươi!..."
Kết thúc đêm liên hoan ngẫu hứng "lửa trại Là Si" chị Lì Zố Sừ được mời hát bài hát "Ðất Là Si" thêm một lần nữa.
Tôi nghĩ rằng, bài hát này mới sáng tác cũng chưa quá năm sáu mươi năm như bài Tình ca Tây Bắc. Giai điệu của nó chắc là lấy trong dân ca của người La Hủ nên nó mới đi vào lòng người như vậy.
Trên dải biên cương phía bắc này có thêm một tộc người nữa được cứu vớt. Họ sẽ còn mãi như dân ca La Hủ cùng trường tồn với nước Việt.