Trong nhiều tài liệu lịch sử ghi lại: Năm 1930, khi phong trào cách mạng ở Trung Kỳ sôi nổi, tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi..., các cuộc đấu tranh biểu tình của nhân dân ta diễn ra sục sôi. Chính quyền thực dân dùng lính lê dương và đem trái phá đàn áp. Trong các cuộc biểu tình ấy, ngoài số người bị bắn chết ngay, còn số bị bắt ở các nhà lao đến hàng nghìn người. Hết thảy nhà lao ở các tỉnh, địch giam đầy chính trị phạm. Nhân đó, chính quyền thực dân muốn lấy nhân công để khai phá rừng núi các tỉnh Tây Nguyên và làm con đường 14. Vậy là, chúng đày chính trị phạm từ miền trung lên đây và lập nên Ngục Kon Tum. Số chính trị phạm lúc đầu là 297 người (có hai nữ) hầu hết ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.
Tại đây, thường xuyên diễn ra hành động tra tấn dã man bạo ngược của kẻ thù đối với chính trị phạm, nhưng không khuất phục được tinh thần đấu tranh bất khuất của những chiến sĩ cách mạng. Quá trình đó được miêu tả, ghi lại trong nhiều tài liệu, nhất là cuốn sách Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến. Tác giả chính là cựu tù chính trị còn sống sót trở về đã mô tả sinh động về "địa ngục trần gian này".
Năm 1988, Ngục Kon Tum được công nhận là di tích lịch sử-văn hóa cấp Nhà nước. Nơi đây, nhiều năm qua đã được đầu tư nâng cấp, xây dựng trở thành địa chỉ tham quan, giáo dục truyền thống cách mạng trên dải đất Tây Nguyên. Những ngày này, nhân kỷ niệm 75 năm truyền thống Ngục Kon Tum (12-12-1931 - 12-12-2006), Tỉnh ủy Kon Tum đã tổ chức nhiều hoạt động giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng của Kon Tum trên địa bàn toàn tỉnh. Nổi bật là cuộc thi tìm hiểu về truyền thống đấu tranh của chính trị phạm tại Ngục Kon Tum.
Chị Vũ Thị Mai, Phó Giám đốc khu di tích cho biết: Cuộc thi thu hút sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân với 300 nghìn bài thi. Ðặc biệt, tất cả các trường học và các đơn vị quân đội, công an trên địa bàn đều dự thi với tỷ lệ hơn 90% số người có bài dự thi.
Hướng dẫn viên Nguyễn Thị Lành, dẫn chúng tôi tham quan tòa nhà hai tầng được xây dựng khá hiện đại của khu di tích. Chị kể, tại nghĩa địa Kon Tum từng có ngôi mộ lớn chôn các chiến sĩ cách mạng. Xưa, nơi đó trơ trọi như nấm mồ vô chủ, rêu cỏ phủ đầy, khách qua đường khi dừng bước, không khỏi ngậm ngùi thương tiếc những người chiến sĩ đã vì nước hy sinh. Nay tại tiền sảnh khu di tích dựng hai tấm bia trên hai ngôi mộ lớn. Một bên ghi tên tám chiến sĩ cách mạng hy sinh trong cuộc đấu tranh lưu huyết ngày 12-12-1931. Và bia mộ bên kia ghi tên bảy người hy sinh trong cuộc đấu tranh ngày 16, tháng Chạp, năm 1931. Cả 15 người đều là chính trị phạm quê Nghệ An và Hà Tĩnh.
Nhiều năm qua, với sự nỗ lực sưu tầm và nâng cấp, di tích hiện đang trưng bày 400 hiện vật cùng hơn 500 trang tư liệu quý. Tại đây chúng tôi đọc được những bức thư đã nhòe mực của gia đình gửi anh em, nội dung thật cảm động. Những dòng tâm huyết của chính trị phạm động viên nhau đấu tranh và cả những bài thơ đầy lạc quan, được viết trong ngục tối, dưới đòn roi tra tấn của địch. Trong đó, bài thơ của tù nhân Hồ Văn Ninh, đến nay vẫn được lưu truyền rộng rãi: Sinh tồn thuyết ấy khó gì đâu/Hiệp lực đồng tâm chước nhiệm màu/Ra sức đào non, non vẫn nhỏ/Bền lòng tát bể bể nào sâu...