Nghi lễ truyền thống trong các di tích lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội

Thủ đô Hà Nội hiện nay (sau khi mở rộng) có hơn 5.000 đình, đền, chùa, phủ, quán. Hằng năm đều có các ngày tuần tiết, nhất là ngày cúng giỗ và lễ hội để tưởng nhớ các vị thần có công với nước, với địa phương, với làng... Nghi thức cúng, tế, lễ, rước... mỗi nơi một vẻ, rất phong phú theo truyền thống xưa để lại. Tuy nhiên, nghi lễ cúng tế, do việc kế thừa thiếu sự truyền đạt đầy đủ nên không ít nơi làm chưa đúng trật tự. Mặt khác, ngày nay trong đời sống xã hội hiện đại, nghi thức tín ngưỡng cổ truyền cũng cần được điều chỉnh, để vừa bảo đảm bản sắc truyền thống, vừa phù hợp điều kiện xã hội mới - CNH, HÐH và đô thị hóa.

Hội thảo "Nghi lễ truyền thống trong các di tích lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội" do Hội Di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội chủ trì nhằm xác định những giá trị văn hóa truyền thống (tín ngưỡng thờ cúng, tế, lễ...), đồng thời chọn lọc những mô hình nghi lễ bảo đảm nội dung chuẩn mực, qua đó định hướng và phổ biến đến các di tích để tham khảo.

Trong khuôn khổ hội thảo, chúng ta đã được xem hai đội tế Nam và một đội Nữ quan dâng hương trình diễn tại đình Hào Nam. Tuy chưa phải là hoạt động duy nhất của nghi lễ tín ngưỡng thờ, cúng ở đình, đền nhưng tế lễ là nghi thức quan trọng trong các lễ hội cổ truyền ở các đình, đền Việt Nam.

Ðôi nét về nghi lễ thờ cúng truyền thống của người Việt

Nói đến đời sống tâm linh, không thể không nói đến việc thờ cúng tại nhà cũng như ở đình, đền, chùa, phủ, miếu. Trong lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng thì người xưa cũng như các thế hệ hiện tại đã quan niệm là một đạo lý, có nhân sinh quan đúng mực giữa đất - trời - con người, tức là "Thiên - địa - nhân". Từ nhận thức đó mà từ lâu đời, nhân dân ta có tục lệ thờ Thiên thần (Nhiên thần); thờ Thổ địa - thần linh cai quản vùng đất ấy; thờ Nhân thần là những bậc anh hùng cứu nước, những vị Tổ khai khẩn lập làng xã, những vị Tổ nghề; thờ cúng cha mẹ, ông bà tổ tiên.

Việc thờ Thần ở các công trình tín ngưỡng cũng như cúng lễ ở nhà (Gia thần, Gia tiên), hoặc việc lập chùa thờ Phật, lập phủ, lập điện, thờ Mẫu có mục đích thuộc phạm trù đạo đức, uống nước, nhớ nguồn, đền ơn, đáp nghĩa. Ðồng thời cũng còn mục đích cầu Phật, cầu Thánh thần, Gia thần, Gia tiên che chở cho những lúc ốm đau, không may mắn, thất cơ, lỡ vận... Cầu để mong có sự âm phù cho mưa thuận gió hòa, sản xuất trồng trọt được thuận lợi, ngư dân ra khơi vào lộng đánh bắt hải sản được bình an.

Những sự việc, hiện tượng nêu trên đều liên quan việc thờ cúng ở nhà và ở các di tích lịch sử - văn hóa. Tín ngưỡng thờ cúng, ngoài ý nghĩa giáo lý, cầu thiện, làm phúc đức để bảo tồn kỷ cương, trật tự gia đình và xã hội, còn có ý nghĩa cầu cúng để mong đạt được "Thiên thời, địa lợi, nhân hòa" - nguyên nhân đưa đến mọi thắng lợi cho quốc gia, cũng như làng xã, dòng họ và gia đình.

Tín ngưỡng thờ cúng ở nhà, các đình, đền, chùa... là đời sống tâm linh, là lối sống cộng đồng của nhân dân ta. Tuy nhiên, tự do tín ngưỡng, không có ý nghĩa là phó mặc cho trôi nổi, mê tín, dị đoan phát triển. Cần gạn đục, khơi trong để việc thờ cúng giữ được bản sắc dân tộc, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh.

Về nghi lễ ở đình, đền, miếu, phủ

Ðình làng:

Ðình xưa là ngôi nhà công cộng của làng xã Việt Nam. Nơi đây có ba chức năng được thực hiện: hành chính, tôn giáo và văn hóa. Về chức năng hành chính, đình là chỗ để họp bàn bạc "việc làng, để xử kiện, phạt vạ" theo những quy ước của làng. Về chức năng tôn giáo, đình là nơi thờ Thần của làng, thường là một vị, nhưng cũng có nơi nhiều vị, được gọi là Thành hoàng làng. Về chức năng văn hóa, đình là nơi biểu diễn các kịch hát như chèo, hay hát cửa đình - một hình thức đã phát triển trong các thế kỷ trước, nơi tiến hành các lễ hội, các trò chơi... Các chức năng trên không bao giờ tách bạch, mà đan xen hòa quyện với nhau.

Ở đây ta nói đến lễ tại đình (chức năng tôn giáo và một phần chức năng văn hóa của đình). Thành hoàng làng là vị Thần ngự trị trong lòng dân từ nhiều thế kỷ và làng nào chẳng có đình thờ Thành hoàng (sau năm 1945 đến nay, ở miền bắc đình làng bị mai một, không còn làm hết các chức năng như xưa, nhưng chức năng tôn giáo vẫn còn duy trì, gắn với một phần chức năng văn hóa, nhất là lễ hội). Từ cõi tục cuộc sống đầy gian lao vất vả, lại gặp muôn vàn khó khăn bởi tại trời, vạ người khiến người dân chỉ biết trông cậy vào sự âm phù của siêu nhiên và nhất là vị Thần mệnh danh là Thành hoàng làng (bảo vệ cho làng). Vì vậy nên việc thờ Thành hoàng làng trở thành lệ tục của nhân dân Việt Nam . Và việc tế lễ Xuân Thu vẫn được cộng đồng tâm niệm thờ cúng, cũng như mở hội làng, thể hiện sự thành tâm của cộng đồng đối với Thần, Thánh, đồng thời là cơ hội gặp mặt bà con họ hàng. Ngày nay, nhiều nơi vẫn còn đình làng, nhưng đình không làm đủ các chức năng như xưa. Tuy vậy, việc thờ cúng, tế lễ ở đình vẫn được duy trì ở mức độ phù hợp, trong đó có lễ hội.

Ðền, miếu, phủ

Ðền thờ Thần, Thánh (kể cả Thánh Mẫu) của một cộng đồng dân cư một vùng, một xã, thôn nào đó. Các vị Thần, Thánh được thờ ở đền phần lớn là anh hùng có công với nước, với dân trong việc chống ngoại xâm, khai hoang lập ấp (đền Voi Phục, đền Hai Bà Trưng, đền Cơ Xá...); các vị siêu nhiên, Thần mây, mưa, nước.... (đền Ðống Nước ở phường Ngọc Hà, Ba Ðình...).

Miếu thường để thờ các vị thổ thần của từng ngõ xóm. Nhưng cũng có miếu thờ Thánh, thờ Thần như miếu Trần ở Nam Ðịnh, Y miếu ở quận Ðống Ða thờ đại danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông. Lại có Thái miếu thờ các vị hoàng đế. Do vậy, đền và miếu cũng chỉ phân biệt một cách tương đối, không thể tách bạch cặn kẽ.

Phủ thờ là nơi để mọi người đến ngửa trông xin xem xét một việc nào đó mà bản thân hay gia đình đang bế tắc, chưa được giải thoát (chữ "Phủ: ở đây là cúi , cúi xin xem xét). Nói đến phủ, tất phải nghĩ về tín ngưỡng thờ Mẫu, đây là đặc thù bản địa, ăn sâu vào lòng người như phủ Tiên hương, phủ Vân Cát, phủ Tây Hồ...

Trong năm, vào các ngày tuần tiết, các cụ ông thường ra đình làm lễ, hoặc làm phận sự mà làng giao phó. Ngày nay, không còn quan niệm phong kiến "trọng nam khinh nữ", nên các bà, các chị đều được lên đình lễ Thánh. Các đội dâng hương Nữ quan đã đến đình, đền làm lễ với nghi thức trang trọng.

Nghi lễ thờ cúng tại các di tích lịch sử - văn hóa, đặc biệt là đình và đền có liên quan đến hội làng . Việc thờ cúng, tế lễ là một phần của hội làng. Lễ hội thời đại mới tuy đã được điều chỉnh cho thích hợp với điều kiện sinh hoạt của nhân dân, nhưng nghi thức lễ, dâng hương và tế nhìn chung vẫn được duy trì. Ðây là nghi lễ tín ngưỡng truyền thống, là bản sắc văn hóa cần được bảo tồn. Lễ hội ngày nay được kết hợp hài hòa của phần lễ và phần hội, với nghi thức tế lễ, rước và hoạt động văn hóa - thể thao, là sinh hoạt tinh thần vui tươi, hấp dẫn của các tầng lớp nhân dân địa phương và khách thập phương.

TS LƯU MINH TRỊ                      
Chủ tịch hội Di Sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội

Có thể bạn quan tâm