Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2024, cả nước có 843 doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước với tổng tài sản hơn 4,336 triệu tỷ đồng, vốn chủ sở hữu hơn 1,948 triệu tỷ đồng.
Những kết quả khả quan
Nhìn chung, các doanh nghiệp nhà nước đã đạt kết quả tích cực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, các chỉ tiêu về tài chính chủ yếu đều có sự tăng trưởng so với năm trước. So sánh tăng trưởng giai đoạn 2021-2023 trên cơ sở dữ liệu thuế, khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng trưởng tài sản và vốn chủ sở hữu thấp hơn so với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nhưng hiệu quả hoạt động và nộp ngân sách lại tăng cao hơn khá nhiều.
Cụ thể: Tổng tài sản khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân 2,7%/ năm, trong khi tốc độ tăng bình quân của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân tương ứng là 6,9 và 15%; vốn chủ sở hữu khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân 2,4%, khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân tăng tương ứng 7,5% và 12,75%. Tổng doanh thu của khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân gần 10%/năm, tổng lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 8,5% trong khi các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân có tổng doanh thu tăng bình quân lần lượt 4,8% và 11% nhưng lợi nhuận trước thuế năm 2023 thấp hơn năm 2022. Về đóng góp ngân sách nhà nước, khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân 18%/năm, trong khi doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân tăng tương ứng 5% và 7,4%.
Các doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty tiếp tục đóng vai trò chi phối, chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực có tính chất chiến lược, thiết yếu đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và là công cụ quan trọng để thực hiện ổn định nền kinh tế vĩ mô, ứng phó những biến động của thị trường, kiềm chế lạm phát. Bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị-xã hội, nhiều doanh nghiệp nhà nước còn thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia. Báo cáo tài chính năm 2025 của nhiều tập đoàn, tổng công ty đều ghi nhận kết quả sản xuất, kinh doanh tích cực, góp phần quan trọng trong hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2021-2025.
Những con số nêu trên thể hiện xu hướng tích cực của khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình
Theo chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình, những con số nêu trên thể hiện xu hướng tích cực của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Đó là tinh gọn hơn về quy mô nhưng chất lượng, hiệu quả hoạt động được cải thiện, giữ vị trí chi phối trong những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như viễn thông, năng lượng, ngân hàng, đóng góp hơn 29% GDP của cả nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong dẫn dắt, tạo động lực cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển và thúc đẩy liên kết, hình thành chuỗi giá trị gia tăng còn hạn chế; hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ, một số doanh nghiệp vẫn rơi vào tình trạng thua lỗ.
Kỳ vọng từ thể chế mới
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể là chú trọng xây dựng và phát triển các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt, tạo động lực thúc đẩy các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược, có năng lực cạnh tranh toàn cầu hoặc các ngành, lĩnh vực thiết yếu. Mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ một đến ba doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tất cả tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị OECD.
Tiến sĩ Lê Duy Bình cho rằng, để thực hiện các mục tiêu nêu trên, cần triển khai nhanh các nhiệm vụ, nhóm giải pháp cụ thể đã được đề ra tại Nghị quyết số 79 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước. Trong đó có nội dung phân định rõ chức năng sở hữu, quản lý kinh tế, thực hiện các nhiệm vụ chính trị và trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp cùng với yêu cầu đổi mới quản trị doanh nghiệp gắn với trách nhiệm giải trình theo tiêu chuẩn OECD.
Trong thực tế, doanh nghiệp nhà nước chưa được quyền chủ động trong việc ra quyết định đầu tư, phải chờ xin ý kiến chấp thuận của nhiều cấp, nhất là đối với những dự án đầu tư quan trọng, dự án có tính chất mạo hiểm khiến giai đoạn 2020-2024, khu vực doanh nghiệp nhà nước chậm triển khai các dự án đầu tư mới, ảnh hưởng đến năng lực và khả năng cạnh tranh. Kỳ vọng từ thể chế mới, khi được mở rộng quyền tự quyết cho hội đồng thành viên và chủ tịch công ty trong phê duyệt dự án đầu tư sẽ tạo không gian pháp lý thông thoáng, giảm thủ tục hành chính và tư duy xin-cho, phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Lê Quang Vũ, Ủy viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) chia sẻ, doanh nghiệp nhà nước muốn làm tốt vai trò tiên phong, dẫn dắt cần được phân cấp, phân quyền, tăng tính chủ động về nguồn vốn và có nền tảng nguồn lực tương xứng với nhiệm vụ được giao. Trước đây, VEC từng bỏ lỡ cơ hội tham gia một số dự án đường bộ cao tốc vì gặp khó khăn do vốn điều lệ chỉ đạt hơn 1.000 tỷ đồng trong khi tổng mức đầu tư các dự án đường cao tốc rất lớn, không bảo đảm tỷ lệ hệ số nợ/vốn chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Để có bước phát triển vượt trội, Nhà nước không chỉ đầu tư vốn tại doanh nghiệp mà cần đầu tư đồng bộ từ thể chế, chính sách, nguồn lực, con người… và quan trọng là phải có cơ chế chấp nhận rủi ro.
Sau khi được Quốc hội thông qua chủ trương tăng vốn điều lệ, doanh nghiệp đã cải thiện rõ rệt năng lực huy động nguồn lực và đầu năm 2025 đồng loạt triển khai các dự án mở rộng đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Long Thành-Dầu Giây, mở rộng đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai (đoạn Yên Bái-Lào Cai)… Để vai trò dẫn dắt chuyển hóa thành kết quả cụ thể trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, cơ chế phải tháo được các điểm nghẽn, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước có đủ năng lực cạnh tranh thật sự.
Trong 17 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nhằm phát triển doanh nghiệp nhà nước được nêu rõ trong Nghị quyết số 79, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương nhấn mạnh đến yêu cầu thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đây là tiêu chí rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới, nhất là đối với doanh nghiệp nhà nước. Vì so với doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước có điều kiện thuận lợi hơn về nền tảng, về nguồn nhân lực cho hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Để có bước phát triển vượt trội, Nhà nước không chỉ đầu tư vốn tại doanh nghiệp mà cần đầu tư đồng bộ từ thể chế, chính sách, nguồn lực, con người… và quan trọng là phải có cơ chế chấp nhận rủi ro. Như vậy, những tập đoàn, tổng công ty nhà nước nòng cốt sẽ có động lực để đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, dấn thân vào những lĩnh vực mới, những dự án công nghệ cao để kiến tạo các ngành công nghiệp mới, gánh vác vai trò tiên phong, dẫn dắt như nhiệm vụ được giao và tích tụ lên quy mô lớn hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước.