Nam Bộ có xuồng "năm quăng"

Tích xưa

Theo "Gia Ðịnh thành thông chí" của Trịnh Hoài Ðức, đất Gia Ðịnh xưa, nay là Nam Bộ, có nhiều công xưởng đóng ghe xuồng như: xưởng Chu sư (trấn Phiên An), thuyền xưởng (trấn Biên Hòa), xưởng Thủy sư (trấn Vĩnh Thanh) và thuyền xưởng (trấn Hà Tiên)...

Ðể hoàn thành một chiếc ghe, người ta cần đến cây rừng. Mà, thuở xưa, cây rừng đâu hiếm. Nào sao, sến, dầu, vên vên, kiền kiền dùng làm ván be, nhưng tốt nhất vẫn là gỗ sao hoặc gỗ sến - những loại gỗ chịu nước rất tài tình. Ðể làm xà cong và tay lái, người ta dùng gỗ mù u. Còn gỗ bằng lăng làm mái chèo được đánh giá là số một. Làm neo, người ta đẽo lấy gỗ xoài. Sau khi đã chọn được cây, người ta tiến hành cưa xẻ gỗ, tạo dáng từng bộ phận và lắp ráp chúng lại với nhau, theo trình tự: gác tiếp, ghim lô, xây mê, lên giàn đà, làm con lươn, vô be vành ấp vồ, đóng giàn cong, gác then, ấp khẩu, xây chậu mũi và chậu lại, làm mũi, lái, mui, hầm rồi xảm trét. Ðể xảm trét, người thợ tài hoa miệt này đã sử dụng cây sơn cảm lảm (bùi nhùi hay trám ở núi) trộn với dầu cây rái.

Nhưng, để có một chiếc ghe ngon lành, mỗi trại đều có một bí quyết nghề nghiệp riêng mà người ta gọi là "mẹo". Ðó là kinh nghiệm của người thợ cả, là các thông số kỹ thuật đặc thù được áp dụng cho mỗi loại ghe xuồng cụ thể. Theo tác giả Võ Công Nguyện trong bài "Nghề đóng ghe xuồng tại Nam Bộ" thì ghe xuồng xưa được cư dân châu thổ đất Chín Rồng sử dụng phổ biến là xuồng ba lá (hay tam bản), xuồng vỏ gòn (hình dáng giống vỏ trái gòn) có kích thước nhỏ, kết cấu đơn giản (giàn đà, cong và ván be), kiểu dáng gọn nhẹ, chủ yếu để đi lại, chuyên chở từ nhà ra đồng ruộng, đến các tụ điểm vui chơi, giải trí, trao đổi, buôn bán rất thuận tiện với cuộc sống "trên bến dưới xuồng". Xuồng ba lá hiện vẫn còn được nhiều người sử dụng và kêu theo quán tính, dù rằng chiếc xuồng được đóng mới có số lượng ván be nhiều hơn ba, có thể là năm, hoặc bảy, hoặc chín tấm ván... Tuy nhiên giá của nó khá mắc, bét nhất là xuồng bằng cây bạch đàn giá cũng từ một triệu đồng đến một triệu rưỡi đồng/chiếc, tùy bề hoành. Cho nên, người thợ xuất sắc vùng sông Hậu đã nghĩ ra một loại xuồng mang tính  "thời sự", "ăn liền", có giá trị "kinh tế thị trường" và được người có túi tiền eo hẹp ủng hộ hết mình. Ðó là xuồng "năm quăng".

Xuồng "Năm quăng"

Cũng như ghe Cần Ðước, ghe Ngã Bảy "hùng cứ" nhiều phương trời của lưu vực sông nước mênh mông này và đã tạo nên thương hiệu uy tín nhất so với các làng ghe xuồng khác của khu vực. Ðến nay, tiếng tăm làng ghe xuồng này vẫn còn trong lòng bao người sống đời sông nước, hấp dẫn bước chân họ tìm về mua sắm cho mình phương tiện đi lại trên sông bảo đảm.

Ông Nguyễn Văn Be, 60 tuổi, sống tại đây (khu vực 1, phường Hiệp Thành, thị xã Ngã Bảy, Hậu Giang) từ nhỏ bằng nghề này cho biết: Trước năm 1975, làng ghe xuồng Ngã Bảy có khoảng 30 hộ làm ghe tam bản (dài bốn mét), xuồng năm lá (dài năm thước), xuồng câu (dài 4,2 thước) bằng cây núi mua ở Sài Gòn có nguồn gốc ở Tây Nguyên. Sau thời điểm này, 30 hộ sản xuất ghe xuồng này trở thành xã viên hợp tác xã. Ðến năm 1980, làm ăn lỗ, họ bung ra làm cá thể. Lúc bấy giờ, cây rừng Tây Nguyên đã hiếm nên họ nghĩ đến việc tận dụng các loại cây tạp ở địa phương cho phù hợp hoàn cảnh kinh tế lúc bấy giờ. Hiện nay, số hộ hoạt động sản xuất ghe xuồng dọc quốc lộ 1 của thị xã Phụng Hiệp này đã giảm đáng kể vì công việc làm ăn kém phát triển dù họ cố gắng nâng cao thương phẩm bằng cây rừng (trăm, trăm đỏ, bình linh, pê-răn...) nhập từ In-đô-nê-xi-a. Cây có đường kính trung bình (45-50cm) khoảng ba triệu đồng một khối, là loại dùng làm trong xây dựng nhà cửa, đóng ghe, đóng vỏ cho chất lượng tốt. Một chiếc ghe dài 9-10 thước ông làm cho khách giá khoảng tám triệu đồng. Nhưng loại này chậm hàng vì ít người đặt. Bây giờ, "thời sự" nhất là loại xuồng "năm quăng". Ông cười cho biết: "Năm quăng" có nghĩa là xài "một năm" thì "quăng" đi, mua chiếc khác. Loại xuồng này rất phù hợp với túi tiền người nông dân, kể cả những chủ vuông tôm giàu có ở miệt Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau...

Ông tổ của chiếc xuồng "năm quăng" là ông Dương Văn Lạc (Hai Lạc), sinh năm 1954 tại ấp Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Ông Hai Lạc theo cha ra tận Nha Trang học nghề đóng giường tủ. Năm 1975, ông rành nghề trở về quê nhà kiếm sống. Quá khó khăn, ông tới Ngã Bảy học cấp tốc nghề làm ghe xuồng rồi trở về mở trại. Rồi cũng gặp khó khăn vì dân nghèo quá, ghe xuồng mắc mỏ sao có tiền mua. Vậy là ông nghĩ đến một loại xuồng được thiết kế bằng cây vườn. Loại xuồng có giá cực rẻ ai cũng có thể mua được này chỉ xài một năm là "quăng" nên rất được nhiều người địa phương rồi cả khu vực ủng hộ. Tên xuồng "năm quăng" có từ đó.

Ông Nguyễn Văn Be trước đây làm ghe xuồng bằng cây núi, nhận thấy mối lợi của xuồng "năm quăng" nên nhanh chóng nắm bắt cơ hội và ông đã thành công. Ông nói: "Xuồng "năm quăng" được làm từ các loại cây: xoài, bạch đàn, gáo, sầu riêng, còng. Ðầu tiên là xẻ ván dày từ một đến 1,2 cm, phơi một nắng. Gặp tháng mưa thì để trong nhà hong gió chừng vài ba bữa, sao cho khi đóng ván không nhót, người sử dụng không gặp trở ngại". Ngoài năm người con làm việc chung, ông còn mướn thêm một vài thợ phụ để giải quyết công việc cho phù hợp nhu cầu. Thợ ở đây làm bán thủ công, ăn theo sản phẩm nên làm việc không có giờ giấc nhất định. Anh Nguyễn Văn Tú, 37 tuổi, đã có bốn năm làm nghề, cho biết thu nhập bình quân của anh mỗi tháng cỡ 800.000 đồng. Gia đình anh sống được nhờ chị vợ buôn bán lặt vặt phụ thêm. Chính vì thu nhập bấp bênh nên thợ không mấy thiết tha với nghề, thợ giỏi chuyển sang làm việc khác. Thông thường, mỗi ngày người thợ làm được một chiếc xuồng "năm quăng", nhận 30.000 đồng tiền công, ăn cơm chủ. Anh Tú vừa đóng đinh vào be xuồng vừa tâm sự: "Một tấc rưỡi tui đóng ba cây đinh để đảm bảo an toàn cho khách. Có nơi người ta đóng hai cây đinh, xuồng mau vô nước". Chỉ với vài ba mũi đinh cuối cùng là anh hoàn thành chiếc xuồng. Anh bảo: "Chỉ cần trét chai là xong. "Năm quăng" giá chỉ 120.000 đồng chiếc 3,5 thước, 170.000 đồng chiếc bốn thước và 200.000 đồng/chiếc năm thước. Trong khi chiếc xuồng sản xuất bằng cây núi, giá bét nhứt bằng cây bạch đàn giá cũng từ một triệu đồng đến một triệu rưỡi đồng/chiếc, tùy bề hoành lớn nhỏ. Còn xuồng composite "thời thượng" chỉ những người có tiền mới dám rớ, vì giá từ bảy triệu đến tám triệu đồng/chiếc sáu thước. Ðặc biệt, nếu chịu khó giữ gìn thì "năm quăng" cũng xài được lâu dài. Người ta lắp vò (trét dầu chai), sẽ kéo dài tuổi thọ của nó thêm một năm nữa".

Ông Be cười nói: ""Năm quăng" giá bèo như vậy nên không cần công đoạn bào láng. Xuồng bán cho người dân vùng nông thôn sâu, những người bán rau dạo kinh rạch và những chủ vuông mua rải thức ăn cho tôm, nhưng chạy nhứt vào mùa nước nổi"... Bình quân, mỗi tháng ông sản xuất theo đơn đặt hàng của khách khoảng 20 chiếc "năm quăng". Dài theo con hẻm nằm cặp kinh xáng Sóc Trăng này còn có hai hộ nữa (ông Quách Thanh Tồn, 76 tuổi và Hồ Văn Bê, trên 40 tuổi) cũng làm xuồng "năm quăng". Bên sông Long Thạnh (huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang) còn có làng xuồng "năm quăng" "hoành tráng", mỗi ngày "ra lò" từ 500 đến 600 xuồng. "Năm quăng", loại xuồng "thời sự", loại xuồng "ăn liền", loại xuồng "kinh tế thị trường" năng động này đang bắt đầu vào vụ khi mùa nước nổi sắp tràn lênh láng một số khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Có thể bạn quan tâm