Thượng nguồn sông Dinh nằm ở độ cao hơn 600m so với mực nước biển, từ núi Gia Rích, xã Phước Bình, huyện Bác Ái chạy dài và uốn lượn qua nhiều thác ghềnh hơn 100km đưa nước xuống vùng hạ lưu TP Phan Rang – Tháp Chàm. Điểm cuối của dòng sông Dinh ở hạ lưu trước khi đổ ra cửa biển Đông Hải, là nơi hợp lưu với sông Quao và sông Lu, người dân gọi nơi đây là “ngã ba sông”.
Vùng cửa sông ở hạ lưu rất rộng, phía bờ bắc là Xóm Cồn, phường Mỹ Đông, TP Phan Rang – Tháp Chàm và bờ nam là làng An Thạnh, xã An Hải, huyện Ninh Phước. Từ mấy trăm năm qua, sông Dinh không chỉ cung nguồn nước tưới sản xuất mà còn có nguồn thủy sản dồi dào cho nhiều thế hệ người dân sống ven sông đánh bắt, mang lại thu nhập, ổn định cuộc sống.
Trong một lần đi công tác ở cơ sở, tôi gặp lại người bạn thời học trung học đang ì ạch chở bao tải nặng đầy con hến đi giao cho tư thương. Hỏi ra mới biết, các món đặc sản, như: hến nấu lá me, hến sào... mà “dân nhậu”, du khách ưa thích mỗi khi đến Ninh Thuận hoặc bán hến nhỏ cho các chủ “vựa” thu mua và bán lại cho những người chế biến thức ăn sống nuôi tôm hùm lồng là do người dân nơi đây cung ứng.
Một ngày đầu tháng 4, chúng tôi đến sông Dinh. Mặt trời vừa ló dạng, ngay dưới chân cầu Đạo Long 1 đã có hàng chục người lội ra và dầm mình giữa dòng nước ngập đến thắt lưng (thời điểm nước triều xuống) rồi dùng cây cào hến có hình dáng giống như cây cào làm bằng gỗ mà nông dân thường sử dụng để đảo lúa trong khi phơi trên sân. Chỉ khác ở chỗ, phần “bàn cào” của cây cào hến là chiếc khung sắt có hình chữ nhật, rộng khoảng 0,2m, dài khoảng 0,8m, được hàn gắn từ những thanh sắt to cỡ ngón tay trỏ; mặt dưới một thanh sắt của chiếc khung mà khi cào, nó tiếp xúc trực tiếp với cát ở đáy sông, có một hàng đinh mười phân được hàn dính vào thanh sắt tạo hình răng cưa, khoảng cách rất nhỏ và bao trọn phần dưới chiếc khung sắt là một túi lưới đáy “mắt nhỏ”. Khi cào, người ta, cho cây cào ngập sâu xuống đáy sông rồi kéo lê từ khoảng 5-7m và nhấc lên, rồi trút những thứ “hầm bà lằng” mắc trong túi lưới vào những chiếc thau nhựa được thả bồng bềnh trên mặt nước như những chiếc phao. Sau đó, dùng một chiếc rổ nhựa đãi, rửa bùn, cát cho đến khi trong rổ đọng lại hàng trăm con hến có kích thước bằng móng tay hoặc bằng đầu ngón tay cái rồi trút vào chiếc bao tải, đưa vào bờ bán cho các chủ “vựa” với giá 2.000 đồng/kg. Những người chuyên cung ứng hến cho các quán nhậu thì chọn những con lớn đóng bao và chở bằng xe máy đi giao cho khách hàng.
Anh Nguyễn Văn Hiệp với dụng cụ dùng để cào hến trên sông Dinh.
Khoảng 10 giờ, trời nắng nóng và cũng là thời điểm nước triều lên, mọi người tất tả thu dọn đồ nghề, kéo nhau lên bờ. Cả người ướt sũng nước, anh Lê Hoài, 36 tuổi, cầm điều thuốc vừa mồi lửa “rít” liền mấy hơi và nói: “Tui ở xã Phước Thuận, từ khi cưới vợ là người dân Xóm Cồn, tui bỏ nghề đi rừng hầm than, quay sang cào hến mấy năm nay, tuy không khá giả gì nhưng ít cực hơn trước”.
Còn anh Nguyễn Văn Hiệp, 38 tuổi, ở Mỹ Nghĩa, chia sẻ: “Tui theo mẹ đi cào hến từ năm lên mười tuổi và bám nghề cho đến nay. Mỗi buổi sáng, cào được 100kg hến cùng với đánh bắt thêm thủy sản khác dưới sông Dinh, cuộc sống gia đình ổn định, dành dụm được ít tiền, nuôi con cái ăn học”.
Mùa khô hằng năm, từ tháng Giêng đến tháng 4 âm lịch, nước biển dâng lên và kéo theo nhiều loài hải sản từ biển như tôm càng, cua xanh, cá lịch... ngập cả vùng “ngã ba sông” Dinh. Đây là thời điểm người dân Xóm Cồn, Mỹ Nghĩa, Mỹ An, Hải Chử tựu về giăng lưới đánh bắt, thu nhập mỗi ngày vài ba trăm ngàn đồng. Vào mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng Chạp âm lịch, nước trên thượng nguồn đổ về nhiều, bà con đi cào hến, mỗi ngày thu nhập hơn 100 nghìn đồng.
“Ngã ba sông” Dinh, cách trung tâm TP Phan Rang-Tháp Chàm khoảng ba km về hướng đông-nam. Người dân nơi đây cho biết, mấy trăm năm trước, lưu dân của các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đã đến Xóm Cồn gầy dựng cơ nghiệp. Thuở lập làng, đời sống chủ yếu là đánh bắt thủy sản trên sông Dinh. Nghề cào hến được hình thành từ đó.
Mỗi buổi sáng, anh Nguyễn Văn hiệp cào khoảng 100kg, thu nhập 200 nghìn đồng từ việc bán hết cho các chủ vựa.
Ngày nay, Xóm Cồn có 250 hộ/1.130 nhân khẩu, nhưng chỉ có 11ha đất trồng màu và 3,3ha ruộng hai vụ lúa được hình thành từ vùng bãi bồi ven sông, do đó, người dân nơi đây luôn giữ nghề cào hến để mưu sinh. Mỗi ngày, số người cào hến lên đến hàng trăm là chuyện thường và 61 hộ nghèo hiện tại, chủ yếu là những hộ có đông con, thiếu đất canh tác, già yếu neo đơn.
Tuy nghề làm ăn trên sông nước dễ kiếm tiền nhưng cũng không ít nguy hiểm, đã có trường hợp chết đuối trong lúc lội giữa lòng sông, người đi cào hến bị sụt chân vào cái hố lớn sâu hoắm do xe xáng cạp tạo nên trong lúc đào lấy cát giữa dòng sông Dinh. Vài năm trở lại đây, vào mùa nước từ thượng nguồn đổ về (còn gọi là nguồn nước bạt) cuồn cuộn, bà con đều mặc áo phao mỗi khi xuống nước hành nghề nên chuyện tai nạn nghề nghiệp không còn nữa.
Chiều xuống, mặt trời khuất dần sau rặng tre xanh ở phía làng An Thạnh, người dân Xóm Cồn tạm ngưng việc cào hến, chuyển sang những dụng cụ khác và hàng chục người mang theo đèn pin, tiếp tục men theo bờ sông Dinh để bắt ốc gạo đêm.
Xen lẫn với khoảng không êm đềm khi màn đêm buông xuống là hàng trăm luồng ánh sáng từ những chiếc đèn pin quét ngang, dọc, tạo cho mặt nước tại vùng “ngã ba sông” chớp lên những vệt sáng huyền ảo, thơ mộng lạ thường. Và đâu đó, bỗng nghe những câu hát mộc mạc, chân quê của đám trai, gái Xóm Cồn văng vẳng như để sẻ chia nhọc nhằn và hò hẹn tâm tình với nhau bên dòng sông Dinh.