Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Đại học VinUni, Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng trưởng bằng cải cách thể chế và nâng cấp doanh nghiệp trong nước. (Ảnh có sử dụng yếu tố AI)
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Đại học VinUni, Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng trưởng bằng cải cách thể chế và nâng cấp doanh nghiệp trong nước. (Ảnh có sử dụng yếu tố AI)

Mô hình tăng trưởng độc đáo của Việt Nam và con đường phía trước

Trong một thập kỷ, hơn 10 triệu người Việt Nam thoát nghèo và tầng lớp trung lưu tăng gần gấp ba lần. Nhưng điều đáng chú ý hơn cả nằm ở một chỉ số ít được nhắc tới: hệ số Gini gần như không đổi suốt ba mươi năm tăng trưởng nhanh. 

Đó không phải ngoại lệ thống kê, mà là hệ quả của một cấu trúc tăng trưởng được lựa chọn khác - nơi bình đẳng được cài đặt ở đầu vào chứ không chờ đợi ở đầu ra.

Những con số nói lên điều gì

Theo chuẩn quốc tế dành cho quốc gia thu nhập trung bình thấp, thì thu nhập của một người tính theo USD cố định 2021 quy đổi theo ngang giá sức mua (PPP) dưới 3 USD/ngày là nghèo. Tỷ lệ này của Việt Nam đã giảm từ 5,2% năm xuống còn 1,6% năm 2022. Hơn 10 triệu người thoát nghèo chỉ trong một thập kỷ. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV cho thấy tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025.

Đáng chú ý hơn con số tổng thể là diện phủ của nó. Tỷ lệ nghèo ở các nhóm dân tộc thiểu số và vùng Trung du, miền núi phía bắc giảm ít nhất một nửa; 23% lao động dân tộc thiểu số đã chuyển sang khu vực sản xuất công nghiệp vào năm 2020; và vào năm 2024 thì 36,5% lao động của dân tộc thiểu số đã chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Giảm nghèo ở Việt Nam diễn ra mạnh nhất ở đúng những nhóm mà theo lý thuyết phát triển thông thường sẽ là những người được hưởng lợi sau cùng.

Ở chiều ngược lại của thang thu nhập, tầng lớp trung lưu tăng từ 6,8 triệu người (7,8% dân số) năm 2011 lên 19,5 triệu người (20,2%) năm 2019, dự báo đạt 50-55% dân số vào năm 2030. Từ ngày 1/7/2026, Việt Nam được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao.

Tính đặc biệt của bức tranh lại nằm ở hệ số Gini. Năm 2022, chỉ số này của Việt Nam là 36,1 - và hầu như đứng yên suốt ba thập kỷ: trung bình 36,15 điểm giai đoạn 1992-2022, dao động trong biên độ hẹp từ 34,8 đến 39,3. Một nền kinh tế tăng trưởng 6-7%/năm liên tục mà bất bình đẳng thu nhập không nhích lên là hiện tượng hiếm trong lịch sử phát triển.

ndo_br_ts-tu-nh.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Đại học VinUni.

Bình đẳng được cài đặt ở đầu vào của mô hình tăng trưởng

Nhiều giáo trình kinh tế phát triển mô tả một lộ trình quen thuộc: tăng trưởng tích tụ trước ở một nhóm nhỏ sở hữu vốn rồi mới từ từ lan tỏa xuống dưới. Bất bình đẳng của quá trình tăng trưởng được xem là cái giá cần thiết phải trả cho tăng trưởng và Nhà nước điều chỉnh bất bình đẳng bằng thuế và trợ cấp. Thực tiễn Việt Nam vận hành theo lô-gích khác: bình đẳng được cài sẵn ở chính đầu vào của tăng trưởng, với bốn trụ cột:

Việt Nam vận hành theo lô-gích khác: bình đẳng được cài sẵn vào chính đầu vào của tăng trưởng.

Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh

Thứ nhất là điểm xuất phát. Việt Nam bước vào Đổi mới với ruộng đất phân bố tương đối bình quân, không có tầng lớp địa chủ lớn hay tập đoàn tư nhân tích tụ tài sản từ trước. Khoán 10 năm 1988 và Luật Đất đai năm 1993 giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân trên nền phân phối ấy. Vì thế, cú hích tăng trưởng đầu tiên ở nông nghiệp giai đoạn 1989-1996 diễn ra ngay tại nơi người nghèo sinh sống, bằng chính tài sản họ nắm giữ. Khi tài sản đầu vào phân tán rộng, tăng trưởng dựa trên tài sản đó tự nó đã mang tính bao trùm.

Thứ hai là mô hình tăng trưởng thâm dụng lao động. Đầu tư nước ngoài hướng xuất khẩu trong dệt may, da giày, điện tử và chế biến hấp thụ hàng triệu lao động phổ thông. Mỗi lao động rời nông nghiệp năng suất thấp không nhận mức tăng thu nhập dần dần mà là một bước nhảy; cầu lao động kỹ năng thấp tăng nhanh hơn cung nên tiền lương nhóm dưới đi cùng nhịp với năng suất chung. Tăng trưởng đã làm tăng giá của tài sản duy nhất mà người nghèo sở hữu là sức lao động, và thu nhập đến tay họ qua thị trường lao động chứ không qua ngân sách.

Thứ ba là vốn con người phổ cập. Giáo dục cơ bản có chất lượng tương đối đồng đều giữa các nhóm thu nhập, với kết quả đánh giá quốc tế cao hơn hẳn mức mà thu nhập bình quân đầu người dự báo; y tế cơ sở và bảo hiểm y tế giữ cho cú sốc sức khỏe không đẩy hộ gia đình quay lại nghèo. Cơ hội việc làm chỉ chuyển hóa thành thu nhập khi người lao động đủ năng lực tiếp nhận và giáo dục là điều kiện để trụ cột thứ hai vận hành.

Thứ tư là vai trò kiến tạo của Nhà nước. Điện khí hóa nông thôn, giao thông, trường học, trạm y tế kết nối người nghèo với thị trường thay vì trợ cấp thụ động; Chương trình 135 và các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo nhắm địa chỉ theo vùng và theo nhóm dân tộc thiểu số. Chuẩn nghèo đa chiều áp dụng từ năm 2016 buộc chính sách nhìn cả y tế, giáo dục, nhà ở và nước sạch. Ngân hàng Thế giới ghi nhận chính sách tài khóa của Việt Nam có tác dụng làm giảm bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình.

Bốn trụ cột có chung một đặc điểm: Nhà nước can thiệp vào điều kiện đầu vào của tăng trưởng chứ không chỉ điều chỉnh kết quả ở đầu ra. Khác biệt nằm ở thời điểm can thiệp, và chính thời điểm ấy quyết định hiệu quả.

Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế

Trung Quốc vận hành gần như cùng một bộ động cơ: khoán hộ nông nghiệp, công nghiệp xuất khẩu thâm dụng lao động, giáo dục phổ cập. Quy mô giảm nghèo đạt được là lớn nhất trong lịch sử, khoảng 800 triệu người thoát nghèo cùng cực kể từ năm 1978. Tuy vậy, hệ số Gini tăng từ 32,2 năm 1990 lên đỉnh 43,7 năm 2010. Theo Ngân hàng Thế giới, nguyên nhân chủ yếu là khoảng cách đô thị - nông thôn, vốn đóng góp tới 51% tổng bất bình đẳng năm 2007. Đặc thù quản lý dân cư theo hộ khẩu khiến lao động di cư khó tiếp cận dịch vụ công, nhà ở và trường học tại nơi làm việc, làm tăng chi phí chuyển dịch lao động; từ đầu thập niên 2010, Trung Quốc đã điều chỉnh theo định hướng "thịnh vượng chung". Bài học rút ra là: với cùng một cỗ máy tăng trưởng, kết quả phân phối phụ thuộc rất nhiều vào việc thể chế tạo thuận lợi hay cản trở dòng chuyển dịch lao động.

Thái Lan cho thấy quỹ đạo ngược lại. Hệ số Gini giảm từ đỉnh 47,9 năm 1992 xuống 33,3 năm 2024, hiện thấp hơn Việt Nam. Nhưng tăng trưởng chậm lại rõ rệt: từ trung bình 7,5%/năm giai đoạn 1960-1996 xuống 2,6%/năm kể từ năm 2010, và dự báo chỉ 1,7-1,8% cho hai năm 2025-2026. Nông nghiệp vẫn thu hút khoảng 30% lao động nhưng tạo ra chưa tới 10% GDP - đúng kênh chuyển dịch mà Việt Nam đang khai thác thì Thái Lan đã gần như ngừng vận hành. Dù Gini thu nhập thấp, 10% hộ giàu nhất nước này vẫn nắm hơn một nửa tài sản quốc gia. Như vậy bình đẳng thu nhập tự nó không bảo đảm cho tăng trưởng dài hạn.

Brazil là trường hợp phản chứng rõ nhất. Xuất phát từ mức tập trung ruộng đất rất cao, hệ số Gini nước này chạm 63,2 năm 1989. Brazil sau đó tái phân phối trên quy mô lớn qua chương trình trợ cấp Bolsa Família, mở rộng an sinh và nâng lương tối thiểu, kéo Gini xuống khoảng 50-52 và đây là một thành tựu thực sự. Nhưng sau 35 năm, mức 50,3 của năm 2024 vẫn cao hơn Việt Nam khoảng 14 điểm; và khi chu kỳ hàng hóa đảo chiều, chỉ số này bật lên 52,9 năm 2021 rồi mới hạ trở lại.

Những ví dụ này cho thấy can thiệp ở đầu ra vừa tốn kém, vừa chậm, lại phụ thuộc vào chu kỳ ngân sách. Ba trường hợp cho một kết luận chung là chi phí sửa bất bình đẳng ở đầu ra luôn cao hơn chi phí phòng ngừa nó từ đầu vào. Trong nhóm bốn nền kinh tế nói trên, Việt Nam là nước duy nhất chưa từng để hệ số Gini vượt ngưỡng 40 điểm.

Nhận diện những giới hạn

Ghi nhận thành tựu không đồng nghĩa với chủ quan.

Trước hết, hệ số Gini thu nhập không phản ánh hết bức tranh: khảo sát mức sống hộ gia đình hầu như không chạm tới nhóm thu nhập rất cao. Quan trọng hơn, chênh lệch về tài sản - đất đai đô thị, bất động sản, tài sản tài chính - đang tăng nhanh hơn nhiều so với chênh lệch thu nhập mà chưa được đo lường đầy đủ.

Thứ hai, ba động lực gốc đang bộc lộ bất cập: thặng dư lao động nông nghiệp mỏng đi; dân số già hóa nhanh trong khi thu nhập mới ở mức trung bình; tự động hóa đặt dấu hỏi lên chính những việc làm thâm dụng lao động từng là kênh giảm nghèo hiệu quả nhất. Với độ mở thương mại gần 170% GDP, nền kinh tế cũng thuộc nhóm nhạy cảm bậc nhất trước biến động thương mại toàn cầu.

Thứ ba, "chặng cuối" của công cuộc giảm nghèo tốn kém hơn nhiều, khi phần nghèo còn lại tập trung ở những vùng gặp nhiều bất lợi về tự nhiên, và hạ tầng.

Thứ tư, hệ thống an sinh xã hội, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, còn thiếu nguồn lực và phân mảnh; nhiều hộ mới thoát nghèo chưa có đủ đệm đỡ trước cú sốc, như đại dịch Covid-19 và rủi ro biến đổi khí hậu.

Tầng lớp trung lưu và chặng đường tới năm 2045

Sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu là tài sản chiến lược cho giai đoạn tới, trên bốn phương diện.

Một là chuyển trọng tâm của cầu: thị trường hơn 100 triệu dân tạo lớp đệm trước biến động xuất khẩu và nâng cấp tiêu dùng sang dịch vụ, y tế, giáo dục, tài chính.

Hai là vốn con người và tiết kiệm trong nước, nền tảng cho thị trường vốn nội địa.

Ba là cơ sở thu ngân sách, khi chuyển dần từ thuế gián thu sang thuế thu nhập và thuế tài sản.

Bốn là nhu cầu về chất lượng thể chế: tầng lớp trung lưu đòi hỏi pháp quyền, quyền tài sản rõ ràng và dịch vụ công tốt hơn và đây chính là những yếu tố quyết định khả năng vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Song cũng cần thấy mặt còn lại: phần lớn nhóm mới gia nhập tầng lớp trung lưu vẫn nằm sát ngưỡng, và một cú sốc y tế, mất việc làm hay chi phí nhà ở tăng có thể đẩy họ trở lại nhóm thu nhập thấp. Chỉ số đúng không chỉ là mức thu nhập tại một thời điểm, mà là mức an toàn kinh tế lâu dài.

Từ đó có thể hình dung năm chuyển dịch chính sách: từ tạo việc làm sang nâng cấp việc làm bằng giáo dục nghề, đại học và kỹ năng số; từ an sinh phân mảnh sang hệ thống đa tầng, bao phủ toàn dân; từ thu hẹp bất bình đẳng thu nhập sang thu hẹp bất bình đẳng cơ hội và tài sản; từ dựa vào đầu tư nước ngoài sang liên kết với doanh nghiệp trong nước; và từ tăng trưởng theo số lượng sang tăng trưởng dựa trên năng suất.

Nguyên lý làm nên thành công của bốn thập kỷ qua vẫn còn nguyên giá trị: can thiệp vào đầu vào của tăng trưởng thay vì chỉ bù đắp ở đầu ra.

Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh

Ngân hàng Thế giới ước tính để trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần duy trì tăng trưởng khoảng 6%/năm trong hai thập kỷ, với năng suất tăng gần 7%/năm. Việt Nam hiện nay còn đặt ra mục tiêu cao hơn những con số này. Những chỉ tiêu này chỉ có thể đạt được bằng cải cách thể chế và nâng cấp doanh nghiệp trong nước, chứ không thể bằng việc bổ sung thêm lao động giá rẻ.

Nguyên lý làm nên thành công của bốn thập kỷ qua vẫn còn nguyên giá trị: can thiệp vào đầu vào của tăng trưởng thay vì chỉ bù đắp ở đầu ra. Điều thay đổi là bản thân bộ đầu vào ấy: trước đây là đất đai, sức lao động và giáo dục phổ thông, từ nay là kỹ năng, thể chế và công nghệ. Câu hỏi của giai đoạn tới không còn là tăng trưởng có đến được với người nghèo hay không, mà là tầng lớp trung lưu mới có chuyển hóa được thành năng suất và chất lượng thể chế hay không.

Có thể bạn quan tâm