Việc công khai số liệu cho thuê, số chỗ ở và căn hộ còn trống tại các khu nhà ở xã hội, nhà ở sinh viên là một bước nhằm minh bạch thông tin về quỹ nhà ở công của Hà Nội. Tuy nhiên, từ thực tế quản lý, khai thác quỹ nhà cho thấy, để sử dụng hiệu quả nguồn lực này, thành phố còn phải giải quyết đồng thời những vấn đề về cơ chế, vị trí, giao thông và sự phù hợp giữa nơi ở với nhu cầu thực tế của người dân, sinh viên.
Quỹ nhà tái định cư: từ tồn đọng đến nhu cầu thực tế
Theo số liệu được Sở Xây dựng Hà Nội công khai trên Cổng thông tin điện tử của Sở, cập nhật trong thời gian từ ngày 1/8 đến ngày 31/8/2026, quỹ nhà ở xã hội và nhà ở sinh viên do Trung tâm Quản lý nhà thành phố Hà Nội quản lý đang có mức độ khai thác khác nhau.
Tại Khu nhà ở xã hội CT19A Việt Hưng, phường Việt Hưng, trong tổng số 515 căn hộ theo quy mô thiết kế, đến hết tháng 8/2026 đã có 513 căn được cho thuê, chỉ còn 2 căn chưa có người thuê.
Trong khi đó, tại các khu nhà ở sinh viên, số lượng chỗ ở còn trống lớn hơn đáng kể. Khu nhà ở sinh viên Mỹ Đình II, phường Từ Liêm, có quy mô thiết kế 7.368 chỗ ở, bố trí 6 chỗ/căn. Hiện đã cho thuê 4.279 chỗ, còn trống 3.089 chỗ.
Tại Khu nhà ở sinh viên Pháp Vân-Tứ Hiệp, phường Yên Sở (Hà Nội), quy mô thiết kế là 5.520 chỗ ở, bố trí 8 chỗ/căn. Số chỗ đã cho thuê là 2.808, còn trống 2.712 chỗ.
Sở Xây dựng Hà Nội lưu ý, số liệu tại Khu nhà ở sinh viên Pháp Vân-Tứ Hiệp chưa bao gồm tòa nhà A1 và 156 căn hộ tại tòa nhà A5.
Đối với tòa A1, Trung tâm Quản lý nhà thành phố Hà Nội đã tiếp nhận nguyên trạng từ Ủy ban nhân dân phường Yên Sở ngày 20/1/2026, theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố tại Văn bản số 346/VP-ĐT ngày 7/1/2026, để làm quỹ nhà tạm cư phục vụ giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư. Hiện đơn vị đang triển khai cải tạo, sửa chữa tòa nhà.
Còn 156 căn hộ tại tòa A5 đang được bố trí tạm cư theo các Văn bản chỉ đạo số 4445/VP-NNMT ngày 18/3/2026, số 4520/VP-NNMT ngày 19/3/2026 và số 4685/VP-NNMT ngày 21/3/2026 của UBND thành phố Hà Nội.
Việc công khai số liệu theo từng khu nhà giúp làm rõ thực trạng khai thác quỹ nhà, đồng thời cung cấp thông tin để các đối tượng đủ điều kiện có thể tiếp cận nguồn nhà ở phù hợp.
Câu chuyện sử dụng hiệu quả quỹ nhà ở công không chỉ đặt ra đối với nhà ở sinh viên. Với quỹ nhà tái định cư, bài toán tồn đọng trong những năm trước cũng đang có những chuyển biến khi nhu cầu nhận nhà của người dân thay đổi.
Ông Nguyễn Ngọc Phan, Trưởng Phòng Phát triển nhà của Trung tâm Phát triển nhà Hà Nội, cho biết trước đây việc tiêu thụ quỹ nhà tái định cư diễn ra chậm, nguyên nhân chủ yếu do vướng mắc về cơ chế.
Theo ông Nguyễn Ngọc Phan, ở thời điểm mặt bằng giá nhà chưa tăng cao, các hộ gia đình thuộc diện giải phóng mặt bằng thường ưu tiên lựa chọn nhận tiền bồi thường, với mức 6,8 triệu đồng/m², thay vì nhận nhà. Điều này dẫn tới tình trạng dư thừa căn hộ tái định cư.
Khoảng 2 năm trở lại đây, khi giá nhà tăng lên, xu hướng lựa chọn của người dân có sự thay đổi. Nhiều hộ chuyển sang nhận nhà tái định cư. Cùng với đó, nhiều dự án đầu tư được khởi động từ đầu năm nay, kéo theo số người dân về sinh sống tại các khu tái định cư tăng lên.
Từ đầu năm đến nay, Trung tâm Phát triển nhà Hà Nội đã bán và bàn giao khoảng 600 đến 700 căn hộ. Dự tính từ nay đến cuối năm, số căn hộ trống sẽ cơ bản được giải quyết gần hết. Sang đầu năm sau, khoảng 80% đến 90% quỹ nhà sẽ được đưa ra phân phối.
Một hướng xử lý khác đang được ngành xây dựng thành phố áp dụng là chuyển đổi một số quỹ nhà tái định cư sang làm nhà ở xã hội phục vụ công tác giải phóng mặt bằng.
Đây cũng là hướng phát triển còn nhiều tiềm năng, khi thành phố Hà Nội đang triển khai nhiều dự án phát triển hạ tầng giao thông và đô thị. Quỹ nhà tái định cư được dành cho các hộ gia đình bị thu hồi đất để thực hiện các dự án, trong đó có những hộ dân nhường đất cho các dự án đường Vành đai 1, Vành đai 2,5, cầu Tứ Liên.
Theo số liệu được cung cấp, toàn thành phố Hà Nội hiện có hơn 200 tòa nhà tái định cư. Trong đó, Trung tâm Phát triển nhà Hà Nội trực tiếp quản lý 58 tòa nhà; khoảng 150 tòa do Công ty Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội quản lý.
Những con số này cho thấy quy mô nguồn lực nhà ở công của thành phố là rất lớn. Việc giải quyết căn hộ còn trống vì thế không chỉ là câu chuyện khai thác một số tòa nhà riêng lẻ, mà còn liên quan cách thức tổ chức, phân phối và sử dụng quỹ nhà phù hợp với nhu cầu phát sinh từ các dự án phát triển đô thị.
Vì sao ký túc xá còn nhiều chỗ trống?
Nếu quỹ nhà tái định cư chịu tác động rõ nét từ cơ chế bồi thường và lựa chọn của người dân, thì đối với nhà ở sinh viên, yếu tố vị trí và sự thay đổi trong phân bố các cơ sở đào tạo lại có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng lấp đầy.
Tại Khu nhà ở sinh viên Pháp Vân-Tứ Hiệp, hạn chế lớn nhất được ông Nguyễn Ngọc Phan chỉ ra là vị trí xa trung tâm, giao thông chưa thật sự thuận tiện.
Khu nhà gồm 6 tòa, trong đó thành phố đã chuyển đổi 3 tòa sang làm nhà ở xã hội, còn 3 tòa phục vụ sinh viên. Một tòa từng được trưng dụng làm cơ sở phòng, chống dịch Covid-19. Hiện đơn vị đang xin kinh phí sửa chữa và dự tính hoàn thành cải tạo vào cuối năm để tiếp tục đón sinh viên.
Tình trạng tại Khu nhà ở sinh viên Mỹ Đình cũng chịu tác động từ sự thay đổi của hệ thống cơ sở đào tạo. Khu nhà nằm trên đường Lê Đức Thọ. Trước đây, tỷ lệ lấp đầy đạt khoảng 70% đến 80%. Tuy nhiên, thời gian gần đây, lượng sinh viên giảm do Đại học Quốc gia Hà Nội chuyển cơ sở và rút sinh viên lên học tập tại Láng - Hòa Lạc.
Thực tế tại Ban Quản lý tòa nhà Đơn Nguyên 4, Khu ký túc xá Nhà ở xã hội dành cho học sinh, sinh viên tại Mỹ Đình 1, cho thấy giá thuê phòng hiện ở mức 393.000 đồng/tháng.
Sinh viên thanh toán tiền phòng 6 tháng/lần và đặt cọc 1 tháng. Ngoài tiền phòng, các khoản chi phí phụ trợ bình quân gồm tiền điện khoảng 100.000 đồng/tháng, điều hòa 150.000 đồng/tháng và internet 50.000 đồng/tháng.
Thủ tục đăng ký cũng tương đối đơn giản. Sinh viên mua đơn do Trung tâm Quản lý và Phát triển nhà thành phố Hà Nội phát hành, xin xác nhận của Trường đại học đang theo học rồi nộp lại hồ sơ để đăng ký.
Mức giá và thủ tục không phải là rào cản lớn, nhưng số phòng trống tại đây hiện vẫn chiếm hơn một nửa tổng số phòng. Nguyên nhân chủ yếu được ghi nhận là sự dịch chuyển cơ sở đào tạo của các trường, làm thay đổi nhu cầu về vị trí chỗ ở của sinh viên.
Khi giá thuê không phải yếu tố duy nhất
Lựa chọn chỗ ở của sinh viên cho thấy bài toán nhà ở không chỉ được quyết định bởi giá thuê.
Là tân sinh viên Trường đại học Bách khoa Hà Nội, sinh viên Phạm Đình Dũng từ Hưng Yên lên Hà Nội nhập học. Dũng lựa chọn thuê phòng trọ ở ghép 4 người, với chi phí 640.000 đồng/người/tháng. Khoảng cách từ nơi ở đến trường khoảng 5 đến 6km và việc đi lại bằng xe buýt khá thuận tiện.
Trong khi đó, sinh viên Hoàng Phương Hoa, sinh viên năm thứ 3 Trường đại học Y tế Công cộng, cho biết đối với loại phòng chất lượng cao (phòng VIP) ở 4 người, có điều hòa và máy giặt, tổng chi phí, bao gồm điện, nước và sinh hoạt, khoảng 6 đến 7 triệu đồng/tháng, chia đều cho 4 người.
Với loại phòng 8 người, không có điều hòa và máy giặt, chi phí mỗi người giảm còn khoảng một nửa. Từ chỗ trọ đến trường khoảng 5km, việc di chuyển bằng xe buýt tương đối thuận lợi.
Những lựa chọn khác nhau của sinh viên cho thấy giá thuê chỉ là một trong những yếu tố quyết định nơi ở. Khoảng cách đến trường, khả năng kết nối giao thông, chất lượng phòng ở và sự thuận tiện trong sinh hoạt đều tác động đến quyết định của người thuê.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao một số khu nhà ở sinh viên dù có giá thuê thấp, thủ tục đăng ký thuận lợi vẫn chưa đạt tỷ lệ lấp đầy như kỳ vọng.
Từ thực tế tại các khu nhà ở xã hội, nhà ở sinh viên và nhà tái định cư, có thể thấy bài toán quản lý quỹ nhà công của Hà Nội đang chuyển từ việc hình thành nguồn cung sang yêu cầu khai thác nguồn cung một cách hiệu quả hơn.
Đối với nhà tái định cư, cơ chế bồi thường, sự thay đổi mặt bằng giá nhà và tiến độ triển khai các dự án có tác động trực tiếp đến nhu cầu tiếp nhận nhà. Đối với nhà ở sinh viên, vị trí khu nhà và sự dịch chuyển của các cơ sở giáo dục có thể làm thay đổi đáng kể nhu cầu chỗ ở, ngay cả khi giá thuê ở mức thấp.
Vì vậy, việc công khai số liệu về số căn hộ, số chỗ đã cho thuê và số còn trống không chỉ có ý nghĩa minh bạch thông tin. Những dữ liệu này còn là cơ sở để cơ quan quản lý nhìn rõ hơn hiệu quả sử dụng từng khu nhà, từ đó có phương án điều chỉnh công năng, sửa chữa, phân phối hoặc chuyển đổi quỹ nhà khi cần thiết.
Thực tế tại Pháp Vân-Tứ Hiệp, Mỹ Đình và các khu nhà tái định cư cho thấy, một nguồn nhà ở công chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong mối liên hệ với quy hoạch giao thông, quy hoạch các cơ sở giáo dục, tiến độ dự án và nhu cầu thực tế của người dân.
Đây là bài toán từ nhu cầu thuê nhà lớn, trong khi thực tế đáp ứng được nhu cầu thuê nhà cần được tính toán đồng bộ trong quản lý quỹ nhà ở xã hội, nhà ở sinh viên và nhà ở tái định cư, để có thể hạn chế tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, đồng thời sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn Thủ đô.