Miễn thủy lợi phí gắn với nâng cao hiệu quả các công trình thủy lợi ở Vĩnh Phúc

Việc miễn TLP phải đáp ứng được yêu cầu nâng cao hiệu quả các công trình thủy lợi và bảo đảm tính công bằng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông nghiệp và nông thôn.

Ðiều kiện và bước đi phù hợp

Sau mười năm tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc có bước phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng đạt 14-17%/năm. Riêng về sản xuất nông nghiệp, những năm gần đây, Vĩnh Phúc liên tiếp bị hạn hán trong vụ đông xuân, ảnh hưởng đáng kể đến năng suất, sản lượng lương thực và đời sống nông dân.

Trước thực trạng đó, Vĩnh Phúc chủ trương tăng cường đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng nông thôn, nhằm nâng cao thu nhập và mức sống của nông dân, giảm bớt khoảng cách về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa lao động nông nghiệp và lao động các ngành, nghề khác.

Thực hiện chủ trương này, từ vụ đông năm 2003, Vĩnh Phúc đã thực hiện miễn 100% TLP cho cây trồng vụ đông. Từ năm 2004 đến 2006, Vĩnh Phúc thực hiện giảm 50% TLP cho hai vụ sản xuất đông xuân, vụ mùa và 100% TLP cây vụ đông.

Từ năm 2007 này, tỉnh xin phép Chính phủ làm thử việc miễn TLP phục vụ sản xuất trồng trọt. Có cơ chế đầu tư giải quyết nước tưới, hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho vùng khó khăn về nước tưới. Triển khai làm điểm và từng bước thực hiện chuyển công tác quản lý, khai thác và dịch vụ tưới tiêu nước của các HTX về các doanh nghiệp thủy nông quản lý. Tỉnh coi đây là giải pháp hỗ trợ nông dân gắn với nâng cao hiệu quả bảo vệ, quản lý khai thác nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình CNH, HÐH đất nước.

Trước khi thực hiện đề án giảm và miễn TLP đối với trồng trọt, tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ đạo các ngành liên quan phối hợp rà soát, thống kê đánh giá lại toàn bộ các hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn; đánh giá công tác quản lý khai thác công trình; tình hình thực hiện thu TLP và sử dụng nguồn thu TLP ở các công ty khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL), khu vực các xã, HTX có quản lý, khai thác công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Ðây là những số liệu, thông tin cơ bản để lãnh đạo tỉnh và các ngành chức năng tính toán, giảm TLP phù hợp với tình hình thực tế và bảo đảm yêu cầu khả thi.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vĩnh Phúc có khoảng 52 nghìn ha đất nông nghiệp; các công trình thủy lợi gồm 247 hồ, đập lớn nhỏ, 365 trạm bơm các loại và 2.387 km kênh mương các cấp. Bốn doanh nghiệp là Công ty KTCTTL Liễn Sơn, Công ty KTCTTL Tam Ðảo, Công ty KTCTTL Lập Thạch, Công ty KTCTTL  Mê Linh quản lý khai thác 10 hồ đập có diện tích tưới từ 300 ha trở lên và 12 trạm bơm điện loại lớn, với diện tích đảm nhiệm tưới tiêu nước cho 35 nghìn ha. Số công trình còn lại do xã và HTX quản lý khai thác đảm nhiệm tưới cho 15-17 nghìn ha.

Qua thống kê, đánh giá, hầu hết các công trình do các công ty quản lý mặc dù xây dựng đã lâu, nhưng hằng năm được tu bổ, sửa chữa, nâng cấp cho nên vẫn bảo đảm được năng lực, cơ bản đáp ứng được yêu cầu sản xuất. Các công trình do xã và HTX quản lý do thiếu kinh phí tu bổ, sửa chữa, thiếu kiến thức quản lý, vận hành cho nên đã xuống cấp nghiêm trọng, không bảo đảm được năng lực theo thiết kế ban đầu.

Trước khi áp dụng giảm TLP, các công ty KTCTTL trong tỉnh chỉ ký hợp đồng đạt được 60-70% diện tích tưới thực tế, diện tích cấp nước tạo nguồn hầu như không ký được hợp đồng dùng nước. Việc thu TLP cũng rất khó khăn, chỉ đạt 60-70% theo hợp đồng tưới tiêu đã ký kết. Tình trạng nợ nần TLP cứ chồng chất năm này qua năm khác.

Theo báo cáo của các công ty, tiền nợ TLP ở các huyện, xã từ năm 2004 về trước tới gần 10 tỷ đồng, không có khả năng thu hồi. Ở các công trình thủy lợi do xã, HTX quản lý, mức thu TLP rất khác nhau, không theo quy định của tỉnh, mà thu theo nghị quyết của đại hội xã viên, cho nên dẫn đến thất thu TLP, nhiều nơi không có tiền để trả lương cho tổ dịch vụ thủy nông và tu sửa công trình.

Sau ba năm thực hiện giảm 50% TLP đối với sản xuất vụ đông xuân, vụ mùa và miễn 100 TLP cây trồng vụ đông, tình trạng giấu diện tích được tưới đã giảm, việc nợ đọng TLP cơ bản không còn xảy ra. Năm 2004, ngân sách tỉnh hỗ trợ TLP cho nông dân 20,91 tỷ đồng/35,12 tỷ đồng nông dân phải nộp (chiếm 60%); năm 2005, ngân sách hỗ trợ 24,57 tỷ đồng/43,08 tỷ đồng (chiếm 57%), năm 2006, ngân sách tỉnh hỗ trợ 27,6 tỷ đồng/45,61 tỷ đồng (chiếm 60%).

Như vậy, trong ba năm 2004-2006, mỗi năm tỉnh Vĩnh Phúc đã trích từ ngân sách hỗ trợ gần 60% TLP cho nông dân.

Bảo đảm tính công bằng và nâng cao hiệu quả công trình

Theo tính toán của tỉnh, mỗi năm Vĩnh Phúc hỗ trợ thêm khoảng 20-25 tỷ đồng nữa là đủ để hỗ trợ toàn bộ tiền TLP cho trồng trọt trong sản xuất nông nghiệp. Như vậy, mỗi hộ nông dân trong tỉnh sẽ được hỗ trợ khoảng 200-250 nghìn đồng một năm và có hơn 200 nghìn hộ được hỗ trợ từ chính sách này.

Tất nhiên, khi thực hiện Nghị định số 154/2007-NÐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15-10-2007 về miễn TLP, tỉnh Vĩnh Phúc sẽ điều chỉnh thêm đối tượng được miễn là các hộ nuôi trồng thủy sản, thì mức hỗ trợ sẽ tăng lên một chút, nhưng theo tính toán cũng chỉ chiếm khoảng hơn 1,2% tổng thu ngân sách của địa phương.

Khi áp dụng chính sách miễn TLP ở Vĩnh Phúc, nông dân những vùng chưa có công trình tưới, hoặc khó khăn về nguồn nước tưới cũng đã thắc mắc là thiếu công bằng, đề nghị với huyện, tỉnh xây dựng công trình tưới hoặc hỗ trợ nông dân ở các vùng này bằng các hình thức khác.

Ðể khắc phục tình trạng này, tỉnh chỉ đạo rà soát, đánh giá lại năng lực phục vụ của các công trình hiện có để có kế hoạch tu bổ, sửa chữa. Ðiều tra, khảo sát và khoanh vùng cụ thể những diện tích khó khăn về nước tưới ở từng xã, huyện; có kế hoạch ưu tiên đầu tư xây dựng thêm công trình mới để bảo đảm công bằng khi thực hiện chính sách miễn TLP của tỉnh.

 Theo thống kê, Vĩnh Phúc còn khoảng 5.300 ha đất canh tác nguồn nước để tưới chưa ổn định; trong đó khoảng 1.800 ha không có nguồn nước tưới, 3.500 ha có nguồn nước nhưng thường xuyên thiếu nước.

Ðể khắc phục tình trạng này, tỉnh sẽ rà soát lại ở 3.500 ha đã có công trình tưới nhưng nguồn nước chưa ổn định, vùng nào khó khăn quá thì chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phần còn lại tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp công trình bảo đảm tưới ổn định. Dự kiến đầu tư khoảng 60 tỷ đồng để hoàn thành việc xây dựng công trình trong vòng ba năm tới.

Ðối với 1.800 ha canh tác chưa có công trình tưới, có thể chuyển đổi cơ cấu cây trồng 300 ha, 1.500 ha còn lại xây dựng công trình tưới bảo đảm hoàn thành vào năm 2010, hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sẽ được hỗ trợ đầu tư bằng các dự án cụ thể.

Ðối với các công trình thủy lợi xây dựng từ lâu, nhưng vẫn bảo đảm an toàn và năng lực tưới phục vụ sản xuất, thì từ sau năm 2010 mới đề xuất cải tạo, nâng cấp. Chủ trương này là giải pháp hợp lý được các cấp, các ngành và phần lớn nông dân đồng tình, ủng hộ.

Miễn TLP, chất lượng phục vụ sản xuất nông nghiệp phải được tốt hơn, nguồn nước phải được bảo vệ, quản lý, khai thác tốt hơn, hiệu quả hơn, đó là yêu cầu và cũng là mục tiêu của Ðảng và Nhà nước. Việc bàn giao các công trình thủy lợi nhỏ lẻ do xã, HTX đang quản lý về các công ty KTCTTL ở Vĩnh Phúc là chủ trương đúng đắn.

Vì các công trình, hệ thống thủy lợi là những công trình hạ tầng kỹ thuật. Quản lý khai thác nó phải có kiến thức kỹ thuật chuyên ngành mới bảo đảm được an toàn công trình, khai thác hiệu quả và duy trì được năng lực phục vụ. Nhưng việc bàn giao cần làm từng bước phù hợp với năng lực tài chính của từng công ty trong việc đầu tư sửa chữa; phù hợp với yêu cầu sắp xếp lại tổ chức nhân sự, định mức lao động và thời gian trang bị kiến thức chuyên ngành cho đội ngũ lao động dịch vụ thủy lợi ở các xã, HTX trước đây.

Làm tốt vấn đề này, chắc chắn Vĩnh Phúc có  thể sẽ là mô hình tốt đối với các địa phương trong quản lý khai thác công trình thủy lợi trong các năm tới.

TRẦN HƯNG

ND - Miễn thủy lợi phí (TLP) là giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho nông dân. Giải pháp này không những được nông dân phấn khởi, hồ hởi đón nhận, mà còn tháo gỡ được nhiều khó khăn cho các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi.

Việc miễn TLP phải đáp ứng được yêu cầu nâng cao hiệu quả các công trình thủy lợi và bảo đảm tính công bằng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông nghiệp và nông thôn.

Ðiều kiện và bước đi phù hợp

Sau mười năm tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc có bước phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng đạt 14-17%/năm. Riêng về sản xuất nông nghiệp, những năm gần đây, Vĩnh Phúc liên tiếp bị hạn hán trong vụ đông xuân, ảnh hưởng đáng kể đến năng suất, sản lượng lương thực và đời sống nông dân.

Trước thực trạng đó, Vĩnh Phúc chủ trương tăng cường đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng nông thôn, nhằm nâng cao thu nhập và mức sống của nông dân, giảm bớt khoảng cách về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa lao động nông nghiệp và lao động các ngành, nghề khác.

Thực hiện chủ trương này, từ vụ đông năm 2003, Vĩnh Phúc đã thực hiện miễn 100% TLP cho cây trồng vụ đông. Từ năm 2004 đến 2006, Vĩnh Phúc thực hiện giảm 50% TLP cho hai vụ sản xuất đông xuân, vụ mùa và 100% TLP cây vụ đông.

Từ năm 2007 này, tỉnh xin phép Chính phủ làm thử việc miễn TLP phục vụ sản xuất trồng trọt. Có cơ chế đầu tư giải quyết nước tưới, hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho vùng khó khăn về nước tưới. Triển khai làm điểm và từng bước thực hiện chuyển công tác quản lý, khai thác và dịch vụ tưới tiêu nước của các HTX về các doanh nghiệp thủy nông quản lý. Tỉnh coi đây là giải pháp hỗ trợ nông dân gắn với nâng cao hiệu quả bảo vệ, quản lý khai thác nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình CNH, HÐH đất nước.

Trước khi thực hiện đề án giảm và miễn TLP đối với trồng trọt, tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ đạo các ngành liên quan phối hợp rà soát, thống kê đánh giá lại toàn bộ các hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn; đánh giá công tác quản lý khai thác công trình; tình hình thực hiện thu TLP và sử dụng nguồn thu TLP ở các công ty khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL), khu vực các xã, HTX có quản lý, khai thác công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Ðây là những số liệu, thông tin cơ bản để lãnh đạo tỉnh và các ngành chức năng tính toán, giảm TLP phù hợp với tình hình thực tế và bảo đảm yêu cầu khả thi.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vĩnh Phúc có khoảng 52 nghìn ha đất nông nghiệp; các công trình thủy lợi gồm 247 hồ, đập lớn nhỏ, 365 trạm bơm các loại và 2.387 km kênh mương các cấp. Bốn doanh nghiệp là Công ty KTCTTL Liễn Sơn, Công ty KTCTTL Tam Ðảo, Công ty KTCTTL Lập Thạch, Công ty KTCTTL  Mê Linh quản lý khai thác 10 hồ đập có diện tích tưới từ 300 ha trở lên và 12 trạm bơm điện loại lớn, với diện tích đảm nhiệm tưới tiêu nước cho 35 nghìn ha. Số công trình còn lại do xã và HTX quản lý khai thác đảm nhiệm tưới cho 15-17 nghìn ha.

Qua thống kê, đánh giá, hầu hết các công trình do các công ty quản lý mặc dù xây dựng đã lâu, nhưng hằng năm được tu bổ, sửa chữa, nâng cấp cho nên vẫn bảo đảm được năng lực, cơ bản đáp ứng được yêu cầu sản xuất. Các công trình do xã và HTX quản lý do thiếu kinh phí tu bổ, sửa chữa, thiếu kiến thức quản lý, vận hành cho nên đã xuống cấp nghiêm trọng, không bảo đảm được năng lực theo thiết kế ban đầu.

Trước khi áp dụng giảm TLP, các công ty KTCTTL trong tỉnh chỉ ký hợp đồng đạt được 60-70% diện tích tưới thực tế, diện tích cấp nước tạo nguồn hầu như không ký được hợp đồng dùng nước. Việc thu TLP cũng rất khó khăn, chỉ đạt 60-70% theo hợp đồng tưới tiêu đã ký kết. Tình trạng nợ nần TLP cứ chồng chất năm này qua năm khác.

Theo báo cáo của các công ty, tiền nợ TLP ở các huyện, xã từ năm 2004 về trước tới gần 10 tỷ đồng, không có khả năng thu hồi. Ở các công trình thủy lợi do xã, HTX quản lý, mức thu TLP rất khác nhau, không theo quy định của tỉnh, mà thu theo nghị quyết của đại hội xã viên, cho nên dẫn đến thất thu TLP, nhiều nơi không có tiền để trả lương cho tổ dịch vụ thủy nông và tu sửa công trình.

Sau ba năm thực hiện giảm 50% TLP đối với sản xuất vụ đông xuân, vụ mùa và miễn 100 TLP cây trồng vụ đông, tình trạng giấu diện tích được tưới đã giảm, việc nợ đọng TLP cơ bản không còn xảy ra. Năm 2004, ngân sách tỉnh hỗ trợ TLP cho nông dân 20,91 tỷ đồng/35,12 tỷ đồng nông dân phải nộp (chiếm 60%); năm 2005, ngân sách hỗ trợ 24,57 tỷ đồng/43,08 tỷ đồng (chiếm 57%), năm 2006, ngân sách tỉnh hỗ trợ 27,6 tỷ đồng/45,61 tỷ đồng (chiếm 60%).

Như vậy, trong ba năm 2004-2006, mỗi năm tỉnh Vĩnh Phúc đã trích từ ngân sách hỗ trợ gần 60% TLP cho nông dân.

Bảo đảm tính công bằng và nâng cao hiệu quả công trình

Theo tính toán của tỉnh, mỗi năm Vĩnh Phúc hỗ trợ thêm khoảng 20-25 tỷ đồng nữa là đủ để hỗ trợ toàn bộ tiền TLP cho trồng trọt trong sản xuất nông nghiệp. Như vậy, mỗi hộ nông dân trong tỉnh sẽ được hỗ trợ khoảng 200-250 nghìn đồng một năm và có hơn 200 nghìn hộ được hỗ trợ từ chính sách này.

Tất nhiên, khi thực hiện Nghị định số 154/2007-NÐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15-10-2007 về miễn TLP, tỉnh Vĩnh Phúc sẽ điều chỉnh thêm đối tượng được miễn là các hộ nuôi trồng thủy sản, thì mức hỗ trợ sẽ tăng lên một chút, nhưng theo tính toán cũng chỉ chiếm khoảng hơn 1,2% tổng thu ngân sách của địa phương.

Khi áp dụng chính sách miễn TLP ở Vĩnh Phúc, nông dân những vùng chưa có công trình tưới, hoặc khó khăn về nguồn nước tưới cũng đã thắc mắc là thiếu công bằng, đề nghị với huyện, tỉnh xây dựng công trình tưới hoặc hỗ trợ nông dân ở các vùng này bằng các hình thức khác.

Ðể khắc phục tình trạng này, tỉnh chỉ đạo rà soát, đánh giá lại năng lực phục vụ của các công trình hiện có để có kế hoạch tu bổ, sửa chữa. Ðiều tra, khảo sát và khoanh vùng cụ thể những diện tích khó khăn về nước tưới ở từng xã, huyện; có kế hoạch ưu tiên đầu tư xây dựng thêm công trình mới để bảo đảm công bằng khi thực hiện chính sách miễn TLP của tỉnh.

 Theo thống kê, Vĩnh Phúc còn khoảng 5.300 ha đất canh tác nguồn nước để tưới chưa ổn định; trong đó khoảng 1.800 ha không có nguồn nước tưới, 3.500 ha có nguồn nước nhưng thường xuyên thiếu nước.

Ðể khắc phục tình trạng này, tỉnh sẽ rà soát lại ở 3.500 ha đã có công trình tưới nhưng nguồn nước chưa ổn định, vùng nào khó khăn quá thì chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phần còn lại tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp công trình bảo đảm tưới ổn định. Dự kiến đầu tư khoảng 60 tỷ đồng để hoàn thành việc xây dựng công trình trong vòng ba năm tới.

Ðối với 1.800 ha canh tác chưa có công trình tưới, có thể chuyển đổi cơ cấu cây trồng 300 ha, 1.500 ha còn lại xây dựng công trình tưới bảo đảm hoàn thành vào năm 2010, hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sẽ được hỗ trợ đầu tư bằng các dự án cụ thể.

Ðối với các công trình thủy lợi xây dựng từ lâu, nhưng vẫn bảo đảm an toàn và năng lực tưới phục vụ sản xuất, thì từ sau năm 2010 mới đề xuất cải tạo, nâng cấp. Chủ trương này là giải pháp hợp lý được các cấp, các ngành và phần lớn nông dân đồng tình, ủng hộ.

Miễn TLP, chất lượng phục vụ sản xuất nông nghiệp phải được tốt hơn, nguồn nước phải được bảo vệ, quản lý, khai thác tốt hơn, hiệu quả hơn, đó là yêu cầu và cũng là mục tiêu của Ðảng và Nhà nước. Việc bàn giao các công trình thủy lợi nhỏ lẻ do xã, HTX đang quản lý về các công ty KTCTTL ở Vĩnh Phúc là chủ trương đúng đắn.

Vì các công trình, hệ thống thủy lợi là những công trình hạ tầng kỹ thuật. Quản lý khai thác nó phải có kiến thức kỹ thuật chuyên ngành mới bảo đảm được an toàn công trình, khai thác hiệu quả và duy trì được năng lực phục vụ. Nhưng việc bàn giao cần làm từng bước phù hợp với năng lực tài chính của từng công ty trong việc đầu tư sửa chữa; phù hợp với yêu cầu sắp xếp lại tổ chức nhân sự, định mức lao động và thời gian trang bị kiến thức chuyên ngành cho đội ngũ lao động dịch vụ thủy lợi ở các xã, HTX trước đây.

Làm tốt vấn đề này, chắc chắn Vĩnh Phúc có  thể sẽ là mô hình tốt đối với các địa phương trong quản lý khai thác công trình thủy lợi trong các năm tới.

Có thể bạn quan tâm