Theo thạc sĩ Nguyễn Duy Ánh - Phó giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, trong quá trình theo dõi sức khỏe cho phụ nữ mang thai, các bác sĩ thường quan tâm đến việc "sàng lọc các đối tượng có nguy cơ cao" có thể xảy ra những "sự cố" khi mang thai và sinh nở: phụ nữ trên 35 tuổi; vợ chồng đã từng sinh con dị tật; phụ nữ từng sẩy thai không rõ nguyên nhân... Bác sĩ Ánh cho biết: Trước khi quyết định làm cha, mẹ, các cặp vợ chồng nên lưu ý đến các yếu tố có thể ảnh hưởng không tốt đến bà mẹ và thai nhi:
Tuổi sinh nở là yếu tố quan trọng nhất. Không nên sinh nở quá muộn, đặc biệt là người vợ, không nên sau 35 tuổi. Các nghiên cứu cho thấy nguy cơ về những bất thường tăng lên theo sự gia tăng tuổi ở người mẹ: Phụ nữ từ 35-40 tuổi có nguy cơ xảy ra các tai biến thai nhi tăng gấp 2 lần so với lứa tuổi sinh đẻ được coi là an toàn. Ở phụ nữ trên 40 tuổi nguy cơ tăng gấp 6 lần.
Việc sử dụng thuốc khi mang thai phải rất thận trọng. Bà mẹ cần tuân thủ chặt chẽ các quy định của bác sĩ sản khoa, tuyệt đối không tự ý dùng thuốc. Không chỉ thực hiện nghiêm ngặt với tân dược mà ngay cả với đông dược cũng cần lưu tâm vì đã là thuốc thì đều có những tác dụng phụ không mong muốn.
Yếu tố môi sinh: Môi trường sống, nguồn nước ảnh hưởng tới sức khỏe mẹ và bé. Khi mang thai tránh tiếp xúc với hóa chất, người mắc bệnh truyền nhiễm. Để chủ động phòng từ xa, hạn chế thấp nhất những tác động không tốt tới mẹ và bé, cả bố và mẹ đều phải chuẩn bị tốt sức khỏe, tinh thần của mình trước khi mang thai. "Hạt giống" của bố có thể bị trục trặc do sử dụng các chất kích thích: rượu bia, thuốc lá, đặc biệt không nên chủ động thụ thai khi chồng trong tình trạng say rượu, khi mắc các bệnh lây qua đường tình dục. Phụ nữ cũng không nên có thai khi sức khỏe yếu như ốm đau, viêm nhiễm âm đạo... Việc bổ sung hợp lý vitamin rất cần cho bà mẹ mang thai, đặc biệt vitamin B9 (axit folic). Thiếu axit folic trong khi mang thai dễ dẫn đến các bất thường về ống thần kinh ở trẻ. Bổ sung axit folic đặc biệt quan trọng trong ba tháng đầu của thai kỳ - giai đoạn "sắp xếp tổ chức" của thai nhi.
Thạc sĩ Nguyễn Duy Ánh cũng lưu ý: Để có thể phát hiện sớm các dị tật thai nhi, các bà mẹ nên khám thai sớm, đặc biệt khi thai khoảng 8 tuần (thời điểm chậm kinh khoảng 3 tuần lễ). Khi thai được 12-13 tuần lễ (việc sắp xếp các tổ chức trong cơ thể thai nhi đã hoàn thiện, đã phân biệt được giới tính em bé), việc siêu âm, "đo độ dày da gáy thai nhi" và một số chỉ định chuyên môn sâu (trong trường hợp cần thiết) tại thời điểm này có thể giúp phát hiện những khiếm khuyết của thai nhi (nếu có).
Theo giới chuyên môn, việc phát hiện sớm các bất thường của thai nhi là rất quan trọng, nó sẽ giúp cho việc chủ động trong điều trị, chăm sóc em bé ngay khi ra đời. Với một số bệnh bẩm sinh, các biện pháp điều trị sớm sẽ giúp trẻ có cuộc sống bình thường. Với những dị tật nặng nề, đình thai là một giải pháp cần thiết được xem xét.