Hiệu quả của bước đi và cách làm
Trong 10 năm qua, kinh tế Vĩnh Phúc liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân hằng năm đạt 17,1%, trong đó giai đoạn 1997-2000 tăng 18,6%; giai đoạn 2001-2005 tăng 15,4%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2006, cơ cấu kinh tế của tỉnh: Công nghiệp 57%, dịch vụ 25,7%, nông nghiệp 17,3%. Ước tính năm 2007, công nghiệp chiếm 60%, dịch vụ 25,24%, nông nghiệp còn 14,76%. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng nhanh từ 892 tỷ đồng (theo giá cố định) năm 1997 lên 20.335 tỷ đồng năm 2006, bình quân tăng 40%/năm; sáu tháng đầu năm 2007 tăng 52,75%. Năm 2007 giá trị công nghiệp ước đạt 27.250 tỷ đồng, tăng 35,25%. Thu ngân sách tăng từ 97 tỷ đồng năm 1997 lên 4.467 tỷ đồng năm 2006, bình quân giai đoạn 2001 - 2005 tăng 36,46%/năm. Từ năm 2004, tỉnh đã tự cân đối được ngân sách và làm nghĩa vụ ngân sách với Trung ương. Dự kiến năm 2007, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ước đạt 5.060 tỷ đồng. Trong đó, thu nội địa chiếm khoảng 80%. GDP bình quân đầu người hằng năm tăng từ 140 USD (năm 1997) lên 720 USD (năm 2006) và ước đạt 900 USD (năm 2007).
Ðến nay, Vĩnh Phúc đã thu hút được gần 500 dự án đầu tư trong đó có hơn 120 dự án đầu tư nước ngoài (FDI), gần 400 dự án đầu tư trong nước (DDI) với tổng số vốn đăng ký hơn 2 tỷ USD và đang tập trung thu hút một số dự án lớn có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất sản phẩm công nghệ cao; phát triển du lịch với tổng số vốn khoảng 1 tỷ USD, nâng tổng số vốn của các dự án đầu tư trên địa bàn lên hơn 3 tỷ USD. Quy mô vốn đầu tư tăng nhanh. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007 ước đạt 9.334 tỷ đồng, tăng hơn chín lần so năm 2000. Ðiều đáng phấn khởi là, sau gần hai năm thực hiện Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng, kinh tế Vĩnh Phúc tiếp tục tăng trưởng cao: Năm 2006 tăng 16,98%, năm 2007 ước tăng 20,4%.
Nhờ sự tác động trực tiếp của tăng trưởng về kinh tế, Vĩnh Phúc có điều kiện giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Tỉnh tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng các công trình phúc lợi xã hội; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; giải quyết việc làm, giảm nghèo, tạo điều kiện thuận lợi cho các vùng khó khăn phát triển. Hằng năm, Vĩnh Phúc giải quyết việc làm cho hơn 20 nghìn lao động. Ðến nay, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ước đạt 36,4%, tăng 3,4% so cùng kỳ; tỷ lệ hộ nghèo còn 12,4%, giảm 2,5% so với năm 2006. Toàn tỉnh xóa hơn 5.000 ngôi nhà tranh tre, nứa, lá, dột nát cho các hộ nghèo. Ðời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Diện mạo đô thị, nông thôn có nhiều đổi mới.
Hai năm qua, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc từng bước cụ thể hóa Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng phù hợp thực tiễn địa phương. Quan điểm chỉ đạo của tỉnh là: Ðẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng trên cơ sở đặc biệt quan tâm phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; lấy phát triển công nghiệp làm nền tảng; đẩy mạnh phát triển và nâng cao chất lượng kinh tế du lịch, dịch vụ, trong đó lấy phát triển du lịch là mũi nhọn. Cuối năm ngoái, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ra Nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực này, nhằm phát huy nguồn lực con người, giải phóng sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế. Tổng nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đến năm 2010 khoảng 1.500 tỷ đồng. Từ những chủ trương cơ bản đó, Vĩnh Phúc đã triển khai thực hiện đem lại những kết quả bước đầu rất quan trọng.
Kinh nghiệm bước đầu, thách thức và triển vọng
Quá trình đẩy mạnh CNH, HÐH ở tỉnh đã thu được những kết quả và kinh nghiệm bước đầu. Trước hết, Vĩnh Phúc đã đề ra phương hướng phát triển kinh tế - xã hội phù hợp, khai thác được tiềm năng, lợi thế địa kinh tế. Tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng, liền kề với Thủ đô và sân bay quốc tế Nội Bài, có Quốc lộ 2A và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai đi qua, rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa và thu hút đầu tư phát triển. Ðịa kinh tế chưa phải là yếu tố quyết định thắng lợi duy nhất nhưng là nhân tố rất quan trọng, để định ra chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của một địa phương.
Hai là, mọi chủ trương chính sách đúng đắn của Ðảng và Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không còn tùy thuộc rất lớn vào năng lực vận dụng Nghị quyết của đội ngũ lãnh đạo chủ chốt từng cấp, từng ngành.
Vĩnh Phúc đã chứng minh điều đó. Ðội ngũ cán bộ lãnh đạo tỉnh tỏ rõ ý chí, quyết tâm cao trong quá trình tổ chức thực hiện. Thực tiễn cuộc sống đã gợi mở nhiều điều mới về tư duy kinh tế, về phương thức chỉ đạo điều hành đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Ba là, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã chọn đúng hướng đi bằng việc thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài để phát triển kinh tế công nghiệp. Tỉnh đã quán triệt vận dụng sáng tạo các Nghị quyết Ðại hội Ðảng, Nghị quyết các Hội nghị T.Ư về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN. Ðặc biệt là những chủ trương đường lối, chính sách thu hút đầu tư phát triển. Từ đó, Vĩnh Phúc coi trọng khâu tổ chức thực hiện bằng các chương trình hành động có trọng tâm, trọng điểm với các giải pháp khả thi và bước đi thích hợp. Nhìn một cách tổng quát, bức tranh kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều điểm sáng, với triển vọng của một thành phố công nghiệp trong tương lai gần.
Tuy nhiên, xét về quy mô thì kinh tế của tỉnh vẫn còn nhỏ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng chuyển dịch lao động nông nghiệp chậm và chưa rõ nét. Kết cấu hạ tầng yếu kém. Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn nhiều bất cập. Nguồn nhân lực, kể cả đã qua đào tạo, chưa đáp ứng được yêu cầu cần phát triển nhanh công nghiệp công nghệ cao. Ðời sống, công ăn việc làm, thu nhập và các nhu cầu thiết yếu của nhân dân, nhất là nông dân còn nhiều vấn đề bức xúc.
Tỉnh Vĩnh Phúc đã đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 sẽ hội đủ các yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp và trở thành thành phố công nghiệp sau năm năm kế tiếp. Ðể thực hiện thắng lợi mục tiêu này, Vĩnh Phúc tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo Nghị quyết Ðại hội lần thứ X của Ðảng và các Nghị quyết T.Ư vào cuộc sống, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Ðây là những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của Ðảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Trong những năm tới, tỉnh tập trung phát triển công nghiệp làm nền tảng, tạo sự tăng trưởng cao, tạo thêm nhiều việc làm mới đáp ứng nhu cầu lao động có chất lượng cho các ngành dịch vụ, đô thị phát triển; tăng thu ngân sách để có điều kiện đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn và các lĩnh vực khác, nhất là hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và giải quyết các vấn đề công bằng xã hội trong tỉnh. Thu hút mạnh nguồn lực đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế để phát triển công nghiệp, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các doanh nghiệp sớm đi vào sản xuất, kinh doanh. Xúc tiến mạnh công tác đầu tư, nhất là đối với lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao, tháo gỡ khó khăn cho các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện các bước về cấp phép đầu tư, triển khai thực hiện các dự án...
Tập trung huy động tối đa các nguồn lực đầu tư xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng, chủ động đáp ứng mục tiêu tăng trưởng và quá trình đô thị hóa từ nay đến năm 2020 với những dự án, công trình trọng điểm.
Thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển hạ tầng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; gắn kết việc phát triển kinh tế, văn hóa với giải quyết tốt các vấn đề xã hội trên địa bàn. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp, từ việc ổn định nơi ở mới, bố trí đất đai để làm ăn sinh sống, đến tạo việc làm và thu nhập ổn định lâu dài cho bà con.
Mười năm nhìn lại, Vĩnh Phúc đã có những bước tiến khá nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là việc thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển. Với bước đi ban đầu đầy hứa hẹn đó, Vĩnh Phúc sẽ tiến nhanh, tiến mạnh và vững chắc hơn trong giai đoạn phát triển mới.