Nhờ thị trường thế giới
Tuy quy mô đầu tư, điều kiện sản xuất, hình thức sở hữu khác nhau, nhưng giữa Công ty Mía đường Bourbon Tây Ninh và Công ty Mía đường Sóc Trăng có những điểm khá giống nhau về mặt tổ chức sản xuất, nắm bắt cơ hội kinh doanh và có những đồng lãi đầu tiên trong năm 2004 (Bourbon Tây Ninh lãi 50 tỷ đồng, Công ty Mía đường Sóc Trăng lãi gần năm tỷ đồng).
Cả ông Philippe Lombard, Tổng giám đốc Bourbon Tây Ninh, và ông Trịnh Minh Châu, Giám đốc Công ty Mía đường Sóc Trăng, đều nhận định yếu tố quyết định đến kết quả kinh doanh của cả hai công ty trong năm 2004 là nhờ thị trường mía đường thế giới diễn biến tốt, nhiều nước chuyển sang sản xuất cồn từ mật rỉ (phụ phẩm của đường) để thay thế xăng dầu, một số nước mất mùa mía, cộng với việc Liên hiệp châu Âu bị WTO phạt vì trợ giá nông sản, nên nhu cầu đường mía tăng cao, giá đường thời điểm cuối tháng 2-2005 ở mức 6.500 đồng/ki-lô-gam loại đường trắng (RS), và 6.800 đồng/ki-lô-gam đường tinh luyện (RE). Theo ông Châu, với giá này, cả nhà sản xuất, chế biến, và người tiêu thụ đều chấp nhận được.
Một thuận lợi khác là mặt bằng giá đường Việt Nam và các nước trong khu vực không chênh lệch quá lớn như các năm trước (đường Thái-lan tại biên giới có giá khoảng 6.400 đồng/ki-lô-gam, chưa tính chi phí lưu thông), nên thị trường trong nước không bị đường nhập lậu "tiến công".
Về hệ thống phân phối, cả hai công ty này đều xây dựng được nhóm khách hàng ổn định tiêu thụ số lượng lớn trong thời gian dài, bên cạnh nhóm khách hàng ngắn hạn. Nếu Bourbon Tây Ninh có lợi thế về nhóm khách hàng thuộc khối công nghiệp thực phẩm và nước giải khát như Pepsi Cola, Dutch Lady, Tribeco, Interfood, thì Công ty Mía đường Sóc Trăng có hệ thống phân phối khá hiệu quả với các chi nhánh, đại lý ở nhiều tỷnh, thành.
Ngoài sản phẩm chính là đường tinh luyện, Bourbon Tây Ninh còn tận dụng phụ phẩm để chế biến ra nhiều sản phẩm khác nhằm tăng thêm hiệu quả như tận dụng bã mía để sản xuất điện bán cho ngành điện Việt Nam, mật rỉ tiêu thụ mạnh cho các ngành sản xuất cồn và bột ngọt; bã bùn và tro lò được bán lại cho nông dân với giá rẻ để làm phân bón.
... Và năng động trong sản xuất, kinh doanh
Ngoài những yếu tố nói trên thì việc Bourbon Tây Ninh và Công ty Mía đường Sóc Trăng có lãi còn nhờ áp dụng phương thức thu mua thông thoáng, an toàn trong thời gian dài, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho người trồng mía để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định. Riêng Bourbon Tây Ninh còn ký hợp đồng trực tiếp với 100% người trồng mía (không phải qua khâu trung gian như trước); nếu giá thị trường có tăng thì cả hai bên sẽ điều chỉnh tăng theo giá thực tế.
Ông Marc Thiery, Giám đốc nông nghiệp của Bourbon Tây Ninh, cho biết Bourbon đã ký hợp đồng thu mua với người trồng mía đến năm 2008 với mức gần 250.000 đồng/tấn mía nguyên liệu. Và từ cuối năm 2004 đến nay, do giá thị trường tăng, nên công ty đã ba lần điều chỉnh tăng giá mua mía. Còn theo ông Châu, hiện Công ty Mía đường Sóc Trăng đã mua với giá 400.000 đồng/tấn nguyên liệu tại rẫy, và 430.000 đồng/tấn giao tại nhà máy, trong khi giá hợp đồng bảo đảm trước đó của công ty với nông dân chỉ ở mức 250.000 đồng/tấn. Ngược lại, nếu giá thị trường thấp hơn giá bảo đảm mà công ty đã ký với người trồng mía thì công ty phải gánh chịu thua lỗ, chứ không điều chỉnh giá mua giảm xuống.
Bên cạnh những thuận lợi từ thị trường thế giới, cả hai công ty đều chuẩn bị rất tốt khâu tổ chức sản xuất để có thể chủ động kinh doanh và giữ vững mối quan hệ giữa công ty với người trồng, gắn vùng nguyên liệu với nhà máy thông qua liên kết.
Theo ông Philippe Lombard, cho đến nay Bourbon Tây Ninh đã đầu tư hơn 75 tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng, và cho hơn 3.000 nông dân vay vốn ưu đãi trồng, chăm sóc mía với mức chín triệu đồng/héc ta trồng mới, năm triệu đồng/héc ta đang khai thác, cung cấp giống mía tốt, giá rẻ, hỗ trợ không hoàn lại cho nông dân các thiết bị tưới tiêu ở vùng đất cao, đi kèm theo đó là những kỹ thuật trồng và chăm sóc mía.
Còn Công ty Mía đường Sóc Trăng đã tư vấn và đầu tư để nông dân chuyển đổi trồng giống mía mới năng suất cao cho 80% diện tích vùng nguyên liệu (12.000 héc ta), và cũng sẽ mở rộng việc khai thác các phụ phẩm từ đường trong năm 2005.
Lối thoát cổ phần hóa
Theo dự đoán của ông Trịnh Minh Châu, thị trường mía đường Việt Nam có khả năng sẽ ổn định trong năm 2005, do giá xăng dầu thế giới còn ở mức cao và nguồn nguyên liệu khan hiếm. Ông Philippe Lombard cũng tin tưởng giá đường hiện tại sẽ là cơ hội tốt giúp cho các nhà máy đường ở Việt Nam từng bước khắc phục tình trạng thua lỗ như trong nhiều năm qua… Ông Châu cho rằng, với nhu cầu thị trường tăng cao, giá tốt, cộng với đầu tư đúng mức như hiện nay, người trồng mía sẽ yên tâm phát triển vùng nguyên liệu, diện tích mía nguyên liệu chắc chắn sẽ tăng khoảng 20% trong năm 2005, giá sàn mua mía tăng từ 280.000 đồng/tấn đến 300.000đồng/tấn.
Tuy nhiên, đối với thực trạng chung của ngành mía đường Việt Nam, theo ông Châu, không có con đường nào khác là cổ phần hóa theo Quyết định 28/2004 (sắp xếp các nhà máy đường) của Thủ tướng, vì chỉ có xác định rõ chủ sở hữu thì các nhà máy mới năng động và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh của mình. Trên thực tế, trong thời gian qua có nhà máy đặt mục tiêu tồn tại là chính nên cạnh tranh với nhau theo kiểu mua cao bán thấp, dẫn đến việc ai cũng có nguyên liệu, nhưng không ai có đủ, ai cũng hoạt động, nhưng không ai có lãi, lỗ lại tiếp tục do ngân sách quốc gia gánh chịu.
Rao bán nhà máy đường
Đầu năm, giám đốc nhà máy đường B. buồn bã cho biết, nhà máy của ông trong vụ mía 2004-2005 chỉ ép được có 40.000 tấn mía, bằng 25% công suất thiết kế. Nhà máy đã ngưng sản xuất từ trước Tết Nguyên đán dù vụ sản xuất kéo dài ít nhất là tới tháng 4 năm nay. Đây là năm thứ sáu nhà máy này thua lỗ kể từ khi đi vào hoạt động vào năm 1998.
Theo kết quả kiểm toán của Nhà nước trong năm ngoái thì nhà máy đường B. có công suất thiết kế ép 1.000 tấn mía mỗi ngày, tương đương 150.000-160.000 tấn mía cây mỗi vụ, với vốn đầu tư ban đầu 140 tỷ đồng từ nguồn vốn vay ngân hàng. Thế nhưng, kể từ khi đi vào hoạt động đến nay, nhà máy chỉ ép được 30.000-100.000 tấn mía cây mỗi vụ và nợ ngân hàng cả gốc lẫn lãi đã lên tới 240 tỷ đồng.
Sau khi có kết quả kiểm toán, nhà máy B. bất ngờ trình lên chính quyền tỉnh cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phương án bán nhà máy. Theo phương án này, nhà máy B. được rao bán với giá chỉ có 36 tỷ đồng, bằng khoảng 26% vốn đầu tư ban đầu, và ưu tiên bán cho cán bộ, công nhân và nông dân trồng mía ở địa phương.
Tuy nhiên, với mức giá này thì Nhà nước bị mất hơn 100 tỷ đồng vốn đầu tư ban đầu và phải trả khoản nợ ngân hàng 240 tỷ đồng mà nhà máy này đang nợ. Nhưng theo ông giám đốc, "bán nhà máy là phương án có lợi nhất cho Nhà nước vì vẫn còn thu được tiền dù thấp hơn số vốn đầu tư ban đầu rất nhiều và sau khi bán, Nhà nước còn thu được thuế giá trị gia tăng tiền bán sản phẩm đường, còn hơn là các năm qua chẳng thu được đồng nào". Nếu không bán thì Nhà nước buộc phải cấp thêm vốn để duy trì hoạt động của nhà máy vì chẳng ngân hàng nào muốn dây dưa chuyện tiền bạc với nhà máy đường B. trong tình hình thua lỗ hiện nay. Nếu Nhà nước không cấp vốn thì nhà máy có khả năng đóng cửa và chỉ trong 2-3 năm, các thiết bị chính của nhà máy sẽ biến thành phế liệu. Ông giám đốc nói: "Thua lỗ và nợ nần của nhà máy hiện nay giống như mụn nhọt trên cơ thể đang sưng tấy lên và lan rộng ra. Nếu sợ đau, không dám cắt bỏ một lần thì nó sẽ lan ra khắp cơ thể, lúc ấy điều trị càng khó khăn và đau đớn hơn".