Tại hội nghị "Ngành ngân hàng đồng hành khơi thông nguồn lực tài chính-ngân hàng phục vụ tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026-2030" do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/10, lãnh đạo chính quyền, ngành ngân hàng, hiệp hội và doanh nghiệp đã tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn thúc đẩy dòng vốn, qua đó ghi nhận 18 thỏa thuận hợp tác tài trợ dự án trọng điểm.
Yêu cầu khơi thông nguồn vốn vùng kinh tế đầu tàu
Phát biểu mở đầu hội nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được khẳng định thành phố đang tập trung tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách phù hợp mô hình tổ chức mới và nghiên cứu điều chỉnh bảng giá đất sát thực tế, thành phố yêu cầu các đơn vị rà soát, tổng hợp dứt điểm các vướng mắc về đất đai, đầu tư và thủ tục hành chính.
Đối với các dự án tồn đọng, thành phố sẽ đẩy mạnh công khai thông tin, phối hợp liên ngành tháo gỡ điểm nghẽn và minh bạch danh mục dự án trọng điểm để doanh nghiệp, nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận thông tin.
Tại hội nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhấn mạnh yêu cầu khơi thông đa dạng các nguồn lực tài chính bên cạnh vốn ngân hàng để đáp ứng nhu cầu phát triển giai đoạn 2026-2030, nhất là tại vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ.
Là trung tâm công nghệ cao và logistics quốc tế theo Nghị quyết 27-NQ/TW, Đông Nam Bộ đóng góp 31,4% vào tăng trưởng chung cả nước trong 9 tháng đầu năm 2026. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP cả năm từ 10% trở lên, vùng cần nguồn vốn đầu tư rất lớn, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục giữ vai trò hạt nhân lan tỏa.
Báo cáo về tình hình tín dụng, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến cuối tháng 9/2026, tổng vốn huy động của các ngân hàng trên cả nước đạt 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,7% so cuối năm 2025; tín dụng toàn nền kinh tế đạt hơn 20,7 triệu tỷ đồng, tăng 11,7%.
Riêng tại khu vực Đông Nam Bộ, tín dụng ước đạt gần 6,8 triệu tỷ đồng, chiếm gần 35% tổng dư nợ cả nước, tăng 10,93% so cuối năm 2025. Để bổ sung nguồn lực cho các dự án quy mô lớn, có tính liên kết vùng và tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai cơ chế loại trừ hoặc cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng thương mại tham gia tài trợ 35 công trình, dự án trọng điểm quốc gia, với tổng nhu cầu vốn vay khoảng 1,7 triệu tỷ đồng.
Trong số này, trên địa bàn Đông Nam Bộ có 15 dự án với tổng nhu cầu vốn vay khoảng 757.000 tỷ đồng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên để bảo đảm giải ngân đúng tiến độ và sử dụng vốn hiệu quả.
Kiến nghị giảm lãi suất và gỡ rào cản tài sản bảo đảm
Mặc dù tín dụng tăng trưởng khá, đại diện các hiệp hội và doanh nghiệp vẫn thẳng thắn chỉ ra nhiều rào cản tiếp cận vốn. Ông Trần Thành Trọng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Sáng Ban Mai, đề xuất ngành ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, bởi biên lợi nhuận thấp và chu kỳ vốn kéo dài khiến mức lãi suất hơn 10%/năm vượt quá khả năng chịu đựng của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, đại diện doanh nghiệp này kiến nghị các tổ chức tín dụng linh hoạt nới lỏng điều kiện thế chấp, chuyển sang thẩm định dựa trên hợp đồng, dòng tiền, uy tín và năng lực thực hiện. Đồng thời, ngân hàng cần bảo đảm tính kế thừa trong chính sách khi thay đổi nhân sự lãnh đạo chi nhánh, tránh yêu cầu làm lại hồ sơ gây phiền hà cho khách hàng lâu năm.
Cùng quan điểm, ông Lê Như Thạch, Phó Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (HUBA) cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, nền kinh tế cần lượng vốn đầu tư rất lớn, trong khi nguồn vốn trung và dài hạn còn nhiều hạn chế. Việc phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng không chỉ gây áp lực lớn lên hệ thống tài chính mà còn khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận vốn do lãi suất cao và điều kiện vay khắt khe.
Từ thực tế đó, ông Thạch kiến nghị cần đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn vốn thông qua phát triển đồng bộ thị trường trái phiếu, cổ phiếu, các quỹ đầu tư hạ tầng, huy động vốn quốc tế và thúc đẩy mạnh mẽ mô hình hợp tác công tư.
Đồng thời, các cơ quan quản lý cần đơn giản hóa thủ tục tín dụng, tăng cường cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, kiểm soát rủi ro chặt chẽ và ưu tiên phân bổ nguồn vốn cho các dự án hiệu quả cao, hạ tầng chiến lược, đổi mới công nghệ cũng như các ngành sản xuất có giá trị gia tăng lớn.
Đồng bộ giải pháp khơi thông dòng vốn
Để tăng khả năng hấp thụ vốn cho vùng Đông Nam Bộ, điểm nghẽn cần tháo gỡ không chỉ là nguồn cung tín dụng, mà chính là vướng mắc pháp lý, thủ tục đất đai, đầu tư cùng năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhấn mạnh yêu cầu phối hợp thường xuyên và chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, tổ chức tín dụng và cộng đồng doanh nghiệp.
Các bộ, ngành và địa phương cần đẩy nhanh tiến độ tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục đầu tư, đất đai và giải phóng mặt bằng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các dự án triển khai suôn sẻ. Đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn, việc huy động nguồn lực cần kết hợp hài hòa giữa vốn đầu tư công, hợp tác công tư, thị trường vốn, vốn chủ sở hữu và tín dụng ngân hàng, tránh dồn toàn bộ gánh nặng lên hệ thống ngân hàng thương mại.
Về phía các tổ chức tín dụng, Thống đốc yêu cầu chủ động tiếp cận dự án, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng thẩm định và nghiên cứu hình thức cho vay hợp vốn đối với các dự án lớn, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, công nghệ số, logistics và xuất khẩu.
Về phía doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra là phải chủ động hoàn thiện hồ sơ pháp lý, minh bạch thông tin tài chính, bảo đảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh và trả nợ khả thi, quản lý hiệu quả dòng tiền để nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng nguồn vốn an toàn, hiệu quả.
Ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, thành phố sẽ tiếp tục tăng cường đối thoại, tiếp nhận và giải quyết kịp thời mọi kiến nghị, vướng mắc từ cộng đồng doanh nghiệp, qua đó không ngừng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội toàn vùng.
Lãnh đạo thành phố cam kết sẽ chỉ đạo sát sao các sở, ngành liên quan trong việc tháo gỡ dứt điểm các vướng mắc về thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng và định giá đất, tạo nền tảng vững chắc để dòng vốn đầu tư và tín dụng được khơi thông hiệu quả.
Tại sự kiện, các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp đã tiến hành trao 18 thỏa thuận hợp tác và hợp đồng tín dụng tài trợ cho các dự án trọng điểm trên địa bàn vùng Đông Nam Bộ. Các gói thỏa thuận này tập trung vào những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế vùng bao gồm công nghiệp chế tạo, năng lượng, hạ tầng giao thông, khu công nghiệp và nhà ở xã hội.
Đáng chú ý, Vietcombank đồng tài trợ cho Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Mặt trời Sài Gòn triển khai Dự án Quảng trường trung tâm và Trung tâm hành chính Thành phố Hồ Chí Minh với tổng mức đầu tư 29.591 tỷ đồng. HDBank và Vikki Bank phối hợp tài trợ cho Công ty cổ phần Tập đoàn Sovico thực hiện Dự án tuyến Đường sắt đô thị số 4 và số 5 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đồng thời, Agribank cam kết cấp tín dụng 4.867 tỷ đồng cho Công ty TNHH Dự án thành phần 2-3 Đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh đầu tư đoạn đường cao tốc từ sông Sài Gòn đến kênh Thầy Cai thuộc Dự án Đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với các dự án sản xuất công nghiệp và phát triển đô thị, MBBank tài trợ 6.050 tỷ đồng cho Công ty TNHH Future Textile Việt Nam thực hiện Dự án Nhà máy sản xuất vải dệt. Vietcombank ký thỏa thuận trị giá 1.113 tỷ đồng với Tập đoàn Đầu tư và Phát triển công nghiệp Becamex đầu tư 2 dự án Nhà ở xã hội Khu 2 và Khu 7 Việt Sing.
Ngoài ra, BIDV và VietinBank đồng tài trợ gói thầu EPIC 1 thuộc Dự án tái phát triển mỏ Maydan Mahzam cho Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC với tổng trị giá thỏa thuận lên đến 2,8 tỷ USD.
Sự kiện ký kết này đánh dấu bước tiến thực chất trong việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026-2030, tạo động lực mạnh mẽ để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn vùng trong giai đoạn mới.