Khôi phục, phát triển rừng tự nhiên bằng cây bản địa ở Tây Nguyên

Vì vậy vấn đề khôi phục, cải tạo và phát triển rừng, từng bước hình thành khu sản xuất nông - lâm nghiệp ổn định, bền vững là yêu cầu cấp thiết, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Nguyên và của cả nước. Ðể khôi phục và phát triển nâng cao chất lượng rừng, đã có không ít giải pháp kỹ thuật được ứng dụng cho từng địa hình và trạng thái rừng thuộc các vùng khác nhau. Chẳng hạn trồng lại rừng mới trên đất còn tính chất đất lâm nghiệp, trảng cỏ hoặc đất đai bị thoái hóa, cải tạo rừng kém chất lượng bằng cách chặt trắng rồi trồng lại, khoanh nuôi, tái sinh tự nhiên, hoặc khoanh nuôi có trồng bổ sung cây lâm nghiệp vào vùng rừng nghèo kiệt...

Ở Tây Nguyên, nhất là các tỉnh Gia Lai, Ðác Lắc, thời gian qua đã có một số cơ sở nghiên cứu và sản xuất kinh doanh thử nghiệm khôi phục, làm giàu rừng bằng các loài cây bản địa, trong đó phải kể đến Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới (TTLNNÐ), Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Bây giờ có điều kiện đi qua các lâm trường KaNác, Sơ Pai, Sông Kôn..., ta dễ nhận ra những băng, đám rừng phủ mầu xanh của loài gỗ giổi. Tuy mỗi nơi có diện tích từ 100 đến 300 ha trồng khảo nghiệm nhưng bước đầu cho thấy triển vọng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và giá trị kinh tế của loại cây này.

Theo các nhà chuyên môn, giổi là loại cây cao (hơn 30 m), đường kính thân gỗ thường 60 - 80 cm, gỗ giổi được dùng làm nhà cửa ở nông thôn, đồng thời sản xuất tủ, giường, bàn ghế, chế tác các mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ đời sống xã hội. Ở nước ta, giổi có nhiều loại: giổi tượng, giổi xanh, giổi nhung, giổi lá dầu, giổi lông.

Nó thích hợp trên nhiều loại đất có nguồn gốc đá mẹ khác nhau, trong đó đất Feralít đỏ vàng, nâu đỏ, xám vàng như vùng Tây Nguyên là điều kiện cho phát triển cây giổi. Quế là cây có nhiều công dụng, vỏ quế chứa tinh dầu, có thể làm thuốc, gỗ được sử dụng làm ván nhân tạo, hay làm giàn giáo xây dựng. Loài cây này được phân bố rộng cả ở các tỉnh phía bắc và các tỉnh phía nam, trong đó nổi tiếng xưa nay vẫn là các vùng quế bạt ngàn Trà Mi, Trà Bồng (Quảng Nam). Quế được trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng cho năng suất cao vẫn là đất Feralít đỏ, đất thịt nhẹ đến trung bình, giàu chất mùn và kali.

Theo các cán bộ Viện Khoa học Lâm nghiệp, quế có thể được trồng thuần loại, hoặc trồng xen lẫn với cây khác. Tại một số lâm trường tỉnh Gia Lai cách đây năm, sáu năm, cây quế đã được TTLNNÐ trồng hỗn giao với giổi. Cách trồng này, thực tế cho thấy hai loại cây giổi và quế sinh trưởng bình thường, sự cạnh tranh về dinh dưỡng không quá khắc nghiệt bởi cây giổi lấy chất dinh dưỡng từ lòng đất sâu, còn quế sử dụng thức ăn ở đất mặt.

Tuy nhiên điều cần lưu ý, nếu trồng hỗn giao trên đất bị mất rừng thì mật độ trên một ha thường trồng 2.000 cây quế + 500 cây giổi. Dầu rái cũng là loại cây bản địa có nhiều từ Quảng Bình vào tận các tỉnh Ðông Nam Bộ. Loại cây này được trồng ở các lâm trường thuộc các địa phương Xuân Lộc, Mã Ðà, Trảng Bom, Lộc Ninh theo phương thức trồng xen với các loại cây khác hoặc thuần loại. Tại Tây Nguyên, câu dầu rái được trồng thử nghiệm ở cả hai vùng đông Trường Sơn và tây Trường Sơn có nhiệt độ trung bình hằng năm tương ứng chỉ có điều mùa khô hạn giữa hai vùng có sự khác nhau. Khảo nghiệm của các nhà chuyên môn cho thấy, khôi phục và phát triển rừng địa bàn này bằng cây dầu rái theo phương thức băng chặt rộng đối với đất trống, đồi núi trọc (mật độ 500 cây/ha với đông Trường Sơn) và trồng hỗn giao với các loại cây khác trên đất rừng bị thoái hóa (mật độ hơn 1.000 cây/ha với tây Trường Sơn). Dầu rái là loại cây cao gỗ lớn, sinh trưởng nhanh (chiều cao đạt 1 - 1,5 m/năm, đường kính 1,5 - 2 cm/năm); gỗ thường được dùng trong xây dựng làm ván nhân tạo và có giá trị xuất khẩu cao...

Một thời gian dài, vì nhiều lý do rừng ở nước ta bị chặt phá bừa bãi, dẫn đến độ che phủ của rừng thấp, trong đó rừng Tây Nguyên cũng bị tàn phá nặng nề (ước tính mỗi năm các tỉnh như Ðác Lắc, Gia Lai mất ba, bốn nghìn ha rừng). Rừng tự nhiên ở nước ta, ngoài chức năng cung cấp gỗ củi và các loại động, thực vật quý hiếm, nó còn đóng vai trò chủ đạo trong phòng hộ, chống xói mòn, rửa trôi đất, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường. Vì vậy, việc khôi phục, phát triển để nâng cao độ che phủ của rừng là vấn đề cấp thiết. Ngành lâm nghiệp nước ta, những năm gần đây đã có một số đề tài nghiên cứu, ứng dụng đến tiến bộ kỹ thuật vào công tác phục hồi rừng tự nhiên bằng các loại cây bản địa; mặt khác đẩy nhanh tốc độ trồng rừng mới nhằm đáp ứng nhu cầu hàng hóa cho công nghiệp chế biến gỗ.

Ở Tây Nguyên khoảng mười năm trở lại đây, các lâm trường ở Gia Lai, Ðác Lắc đã và đang triển khai mô hình khôi phục, phát triển rừng tự nhiên bằng các loại cây bản địa, bước đầu một số diện tích rừng đã khép tán và phát huy hiệu quả. Vấn đề cần phải quan tâm là, cùng với việc nghiên cứu, ứng dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm khôi phục và phát triển vốn rừng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp ở địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nhất là tình trạng di cư tự do vì đây là một trong những nguyên nhân rừng bị chặt phá. Ðồng thời có cơ chế, chính sách đầu tư phù hợp, chọn cây bản địa thích hợp với khí hậu và thổ nhưỡng để xây dựng vốn rừng ở Tây Nguyên.

Có thể bạn quan tâm