Giai đoạn 2019-2025, hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đã đạt được kết quả đáng khích lệ, góp phần bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh và mục tiêu tăng trưởng của doanh nghiệp.
Về quản trị doanh nghiệp, hàng loạt phần mềm đã được Tổng công ty triển khai như phần mềm E-Office, chữ ký số, sổ tay đảng viên điện tử; tổng hợp dữ liệu, thông tin xây dựng hệ thống báo cáo phục vụ công tác điều hành tại Tổng công ty; các hệ thống quản trị nhân sự-tiền lương, chấm công tự động, camera giám sát, bán vé điện tử, kiểm soát hành khách đi tàu, ứng dụng thương mại điện tử, thanh toán điện tử và hóa đơn điện tử; hệ thống lõi quản trị vận tải hàng hóa và điều hành chạy tàu….
Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cũng đã ứng dụng công nghệ để quản lý, kiểm soát, bảo đảm an toàn giao thông đường sắt như lắp đặt camera hỗ trợ giám sát tại 301 phòng trực ban chạy tàu; camera quan sát hành trình và camera cabin cho 334 đầu máy; camera trong, ngoài nhà gác tại 677 đường ngang có gác; camera tại 738 đường ngang cảnh báo tự động, có kết nối về trung tâm giám sát của các đơn vị phục vụ công tác giám sát, cảnh báo, ngăn ngừa các trường hợp vi phạm.
Đồng thời, lắp đặt thiết bị hỗ trợ cảnh báo tại các đường ngang biển báo, lối đi tự mở trong ga tại 53 vị trí có nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông đường sắt cao; ứng dụng công nghệ Lidar phát hiện chướng ngại vật trên đường ngang để cảnh báo về trung tâm và lên đầu máy; giám sát các điểm xung yếu trên đường sắt bằng hình ảnh; giám sát tín hiệu ga, giám sát hành trình tuần đường; lắp đặt thiết bị tự động xả gió chống trật bánh kéo dài đối với toa xe khách, toa xe hàng. Đặc biệt, máy tăng tải đá sử dụng trong công tác khắc phục phòng chống bão lụt được chế tạo thành công góp phần nâng cao năng suất, giảm sức lao động thủ công, bảo đảm an toàn cho người lao động.
Ngoài ra, các đơn vị trong Tổng công ty làm chủ công nghệ, đóng mới được 13 toa xe khách hiện đại (đặt hàng của Công ty Jinxin) và 188 toa xe hàng với tỷ lệ nội địa hóa cao (toa xe khách là 80%; toa xe hàng là 70%), cải tạo toa xe của các đoàn tàu du lịch chất lượng cao SE19/20, SE21/22, SJourney, Hành trình Di sản miền trung, Hoa Phượng đỏ, Hà Nội 5 Cửa ô… đạt chất lượng, mỹ quan, tiện nghi. Việc triển khai các nền tảng số, mở rộng phương thức hợp tác với các đối tác chiến lược lớn như: cổng trung gian thanh toán, ví điện tử, ngân hàng… đã góp phần nhanh chóng khôi phục kinh doanh vận tải sau dịch Covid-19.
Ngoài hệ thống bán vé điện tử, các hệ thống quản trị điều hành, hệ thống quản trị vận tải hàng hóa, phần mềm hỗ trợ điều hành vận tải, Module quản lý nhiên liệu cũng góp phần không nhỏ trong tiết giảm chi phí, nhân lực và nâng cao doanh thu, sản lượng vận tải thông qua việc cập nhật dữ liệu chính xác, nhanh chóng để có các quyết định điều hành kịp thời, hiệu quả.
Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục: công tác chuyển đổi số tại một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức, hạ tầng số chưa đồng bộ, dữ liệu phân tán chưa liên thông; nguồn lực đầu tư còn hạn chế, các cơ sở công nghiệp cơ khí lắp ráp, đại tu, sửa chữa đầu máy, toa xe, cơ khí chuyên ngành kết cấu hạ tầng đường sắt còn thô sơ, lạc hậu, công suất hạn chế, thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ, chuyển đổi số…
Phát biểu tại hội nghị, ông Đặng Sỹ Mạnh, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nhấn mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng, là động lực trung tâm cho phát triển bứt phá. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập một định hướng chiến lược mang tính nền tảng đối với tiến trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đối với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Nghị quyết không chỉ là kim chỉ nam về tư duy phát triển, mà còn là động lực đổi mới, là mệnh lệnh hành động trong bối cảnh mới.
Ngành đường sắt hiện đang đứng trước những cơ hội phát triển chưa từng có từ chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ về phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị và logistics đường sắt. Tuy nhiên, song hành là nhiều thách thức: hạ tầng và công nghệ còn hạn chế, sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, yêu cầu về chất lượng dịch vụ và trải nghiệm hành khách ngày càng cao.
“Nếu không thay đổi, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam sẽ tụt hậu. Đổi mới không còn là khẩu hiệu, mà là điều kiện sống còn để ngành đường sắt thoát khỏi tư duy cũ kỹ, công nghệ lạc hậu và cách làm trì trệ, chậm chạp; từng bước bước vào tương lai hiện đại”, ông Đặng Sỹ Mạnh nhấn mạnh.
Ngành đường sắt xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trụ cột phát triển. Khoa học công nghệ là bảo đảm an toàn, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Đổi mới sáng tạo tạo ra giá trị mới, mô hình mới, cách làm mới, không chỉ đến từ bên trong ngành đường sắt, mà còn từ hành khách, người dân, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp. Chuyển đổi số giúp minh bạch hóa, tối ưu quản lý, ra quyết định nhanh và chính xác dựa trên dữ liệu.
Tinh thần hành động được xác lập là “xung kích-sáng tạo-táo bạo-bứt phá” bằng hành động thực chất, kết quả đo đếm được. Để triển khai hiệu quả, đổi mới bắt đầu từ tư duy, chuyển từ tư duy giữ nhịp vận hành sang tư duy tạo đột phá phát triển. Trên nền tảng tư duy mới, tinh thần sáng tạo lan tỏa trên mọi lĩnh vực, từ quản trị-điều hành, tổ chức sản xuất kinh doanh đến vận hành khai thác và phát triển dịch vụ. Sáng tạo không chỉ dừng ở ý tưởng, mà hiện diện trong từng công việc hằng ngày của mỗi cán bộ, người lao động; mỗi người đều có không gian sáng tạo và được khuyến khích đề xuất, thử nghiệm các giải pháp mới.