Giá trị của một vùng đất tạo thương hiệu
Nhiều đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được tạo nên từ những điều kiện mà không phải nơi nào cũng có: khí hậu, thổ nhưỡng, nguồn nguyên liệu bản địa cùng kinh nghiệm và tri thức sản xuất được tích lũy qua nhiều thế hệ. Những yếu tố ấy tạo nên chất lượng, thương hiệu và nét riêng của sản phẩm. Khi một sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, giá trị đó được xác lập rõ hơn trên thị trường.
Nhưng chỉ dẫn địa lý còn mang một ý nghĩa rộng hơn, chia sẻ tại tọa đàm “Từ bảo hộ đến khai thác chỉ dẫn địa lý: Mở rộng thị trường cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số” do Tạp chí Công thương tổ chức ngày 7/9, ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, chỉ dẫn địa lý là công cụ về sở hữu trí tuệ để xác lập quyền bảo hộ, định vị danh tiếng sản phẩm và trở thành tài sản của cộng đồng. Sau bảo hộ, thách thức đặt ra là tổ chức vận hành, kiểm soát để cộng đồng cùng có trách nhiệm, tuân thủ các quy tắc nhằm bảo vệ và duy trì danh tiếng chung. Cách nhìn này đặt người sản xuất vào vị trí trung tâm của câu chuyện chỉ dẫn địa lý.
Theo ông Đào Đức Huấn, nếu danh tiếng của sản phẩm là tài sản chung, thì lợi ích từ danh tiếng ấy cũng cần được lan tỏa tới những người trực tiếp tạo ra sản phẩm. Chỉ dẫn địa lý vì thế không chỉ hiểu đơn thuần như một công cụ quảng bá hay một dấu hiệu nhận diện, mà còn là một nguồn lực để tổ chức lại sản xuất, kết nối thị trường và tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và đóng góp bền vững hơn cho kinh tế địa phương.
Mật ong bạc hà Mèo Vạc là một trường hợp cho thấy rõ mối liên hệ giữa chỉ dẫn địa lý, thị trường và sinh kế cộng đồng. Sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý năm 2013. Việc bảo hộ góp phần khẳng định nguồn gốc, danh tiếng, giúp sản phẩm được người tiêu dùng nhận biết rộng rãi hơn và nâng tầm giá trị. Với giá bán khoảng 500.000-800.000 đồng/lít và nhu cầu ngày càng tăng, mật ong bạc hà tạo nguồn sinh kế bền vững cho hàng nghìn hộ đồng bào H’Mông và các dân tộc trên Cao nguyên đá Đồng Văn; không chỉ giúp nhiều hộ thoát nghèo mà còn tạo cơ hội làm giàu từ chính sản vật địa phương.
Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh ngay sau khi một sản phẩm có được danh tiếng thị trường. Mật ong bạc hà Mèo Vạc có thời điểm được bán với giá từ 600.000-900.000 đồng/lít, một số cơ sở bán tới 1,5 triệu đồng/lít, cao hơn mật ong thông thường khoảng 5-7 lần. Song chất lượng sản phẩm tại các cơ sở lại không đồng đều, dù cùng sử dụng chỉ dẫn địa lý. Điều này cho thấy, giá trị thương mại càng cao, yêu cầu bảo vệ danh tiếng chung càng lớn. Nếu một cá nhân không quan tâm tới chất lượng hay an toàn thực phẩm, hậu quả không chỉ thuộc về riêng cá nhân đó mà có thể ảnh hưởng đến cả cộng đồng.
Bởi vậy, quản lý và tổ chức sử dụng chỉ dẫn địa lý không thể chỉ là việc cấp quyền sử dụng. Cộng đồng phải cùng tham gia, phải có trách nhiệm bảo vệ danh tiếng chung; đồng thời cần những tổ chức sản xuất đủ mạnh để kiểm soát chất lượng và đưa sản phẩm ra thị trường. Điều này tạo nên một yêu cầu khác biệt so với sản xuất thông thường. Đó chính là nền tảng để sinh kế được duy trì bền vững, không chạy theo giá trị trước mắt mà phải bảo vệ giá trị của cả vùng sản xuất.
Na Lạng Sơn cũng là một dẫn chứng điển hình, sau khi được bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Lạng Sơn” vào năm 2024, sản phẩm có thêm lợi thế trong quảng bá, xúc tiến và kết nối thị trường. Chỉ dẫn địa lý trở thành công cụ để địa phương giới thiệu sản phẩm tại các tuần lễ nông sản, hội chợ, chương trình kết nối tiêu thụ và trên các nền tảng thương mại điện tử, qua đó mở rộng độ phủ tại nhiều tỉnh, thành, hệ thống siêu thị và điểm bán. Giá trị kinh tế vụ na năm 2025 của toàn tỉnh đạt hơn 1.500 tỷ đồng. Ở đây, giá trị của chỉ dẫn địa lý được thể hiện không chỉ ở danh tiếng, mà còn trong khả năng đưa sản phẩm tiếp cận thị trường rộng hơn.
Từ vùng sản xuất đến hệ thống phân phối, từ hội chợ đến thương mại điện tử, càng nhiều kênh tiêu thụ được mở ra thì cơ hội chuyển hóa sản vật thành giá trị kinh tế càng lớn. Và khi giá trị kinh tế gắn với người sản xuất, chỉ dẫn địa lý mới có thêm động lực để được bảo vệ và phát triển.
Bảo vệ danh tiếng để bảo vệ sinh kế
Một trong những vấn đề cốt lõi của việc khai thác chỉ dẫn địa lý là mối liên kết giữa doanh nghiệp với người dân. Ông Phan Bá Kiên, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Baka, cho rằng kết nối với người nông dân trực tiếp tạo ra nguồn nguyên liệu là yếu tố rất quan trọng, thậm chí có thể nói là quan trọng nhất trong khai thác giá trị của chỉ dẫn địa lý. Sự liên kết trước hết phải mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Khi sản phẩm bán được với giá cao hơn, doanh nghiệp có thể mua nguyên liệu với giá tốt hơn cho bà con nông dân.
Hiện nay, Baka hỗ trợ người dân về phương thức canh tác, bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, kiểm soát dư lượng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; đồng thời tập huấn nâng cao nhận thức và kỹ thuật canh tác. Việc tham gia vào chuỗi giá trị lớn hơn và phát triển du lịch nông trại cũng góp phần tăng sự gắn kết, tạo động lực để người dân bảo tồn, phát huy giá trị của vùng đất và sản phẩm. Cách làm này gợi mở một hướng quan trọng: muốn sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý phát triển bền vững, không thể tách rời người sản xuất khỏi chuỗi giá trị.
Người nông dân không chỉ là nơi cung cấp nguyên liệu. Họ là chủ thể trực tiếp tạo nên chất lượng và đặc tính của sản phẩm. Nếu lợi ích từ thị trường không quay trở lại với họ, liên kết khó tạo ra động lực lâu dài để duy trì chất lượng và bảo vệ vùng sản xuất. Ngược lại, khi sản phẩm bán được, giá trị gia tăng được chia sẻ, người dân có thêm động lực đầu tư cho sản xuất, giữ gìn vùng nguyên liệu và duy trì những giá trị làm nên danh tiếng của sản phẩm. Đó cũng là lý do tổ chức sản xuất được xem là nền tảng.
Thực tế cho thấy điểm nghẽn lớn đối với các chủ thể sản xuất ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn là khả năng tiếp cận thị trường. Một hợp tác xã có thể sản xuất tốt, nhưng để đưa sản phẩm ra thị trường còn phụ thuộc vào khả năng đáp ứng các yêu cầu về giá, cơ chế tài chính, thanh toán, chất lượng, thời hạn giao hàng, logistics và nhiều yếu tố khác. Như vậy, bài toán sinh kế không thể giải quyết bằng cách chỉ nâng giá sản phẩm. Cần một chuỗi giá trị đủ năng lực để đưa sản phẩm tới người tiêu dùng, duy trì chất lượng và tạo ra đầu ra ổn định.
Lạng Sơn đang giải quyết vấn đề theo hướng đó, địa phương định hướng đưa các sản phẩm có chỉ dẫn địa lý, sản phẩm đặc trưng tham gia sâu hơn vào hệ thống phân phối; tăng cường kết nối cung cầu, xúc tiến thương mại trong và ngoài nước, thương mại điện tử, kết nối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhà phân phối và nhà nhập khẩu. Đồng thời, các sở, ngành được định hướng phối hợp theo chức năng, từ vùng nguyên liệu, chất lượng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc đến sở hữu trí tuệ, xúc tiến thương mại, phân phối và mở rộng thị trường. Doanh nghiệp, hợp tác xã giữ vai trò trung tâm trong tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ.
Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa đối với những vùng mà sản vật địa phương gắn chặt với cộng đồng. Bởi mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là có thêm một sản phẩm được bảo hộ, cũng không phải chỉ là tạo ra một nhãn hiệu được biết đến. Mục tiêu sâu hơn là biến lợi thế của vùng đất thành cơ hội kinh tế cho chính những người đang sinh sống, sản xuất và gìn giữ giá trị của vùng đất đó.
Những kết quả từ mật ong bạc hà Mèo Vạc hay na Lạng Sơn cho thấy chỉ dẫn địa lý có thể tạo thêm giá trị và mở rộng cơ hội thị trường. Nhưng đây chưa phải câu chuyện phổ biến đối với tất cả sản phẩm đã được bảo hộ. Không ít sản phẩm vẫn có mức độ nhận diện hạn chế, quảng bá chưa thường xuyên, câu chuyện về sự khác biệt chưa được chuyển tải hiệu quả và khả năng kết nối với bán lẻ hiện đại, thương mại điện tử, thị trường ngoài địa phương chưa tương xứng tiềm năng.
Điều đó đặt ra một yêu cầu kép. Một mặt, phải tiếp tục mở thị trường, nâng cao khả năng nhận diện và giá trị thương mại của sản phẩm. Mặt khác, phải tổ chức sản xuất và kiểm soát chất lượng đủ chặt để danh tiếng chung không bị suy giảm. Hai nhiệm vụ này không tách rời nhau, một thị trường rộng hơn sẽ tạo cơ hội tăng giá trị nhưng giá trị càng cao thì trách nhiệm bảo vệ danh tiếng càng lớn. Danh tiếng được tạo nên qua nhiều thế hệ có thể trở thành tài sản của cộng đồng, nhưng cũng có thể bị tổn thương nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý thiếu trách nhiệm.
Vì thế, khai thác chỉ dẫn địa lý cần được nhìn như một quá trình cùng phát triển giữa người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, địa phương và các cơ quan quản lý. Mỗi chủ thể có một vai trò, nhưng đích đến phải là một chuỗi giá trị đủ sức tạo đầu ra ổn định và phân bổ được giá trị gia tăng tới những người trực tiếp làm ra sản phẩm. Khi giá trị của vùng đất được chuyển hóa thành giá trị của sản phẩm, trở lại thành thu nhập, sinh kế và động lực bảo tồn cho cộng đồng, khi đó hành trình từ bảo hộ đến khai thác mới thực sự có ý nghĩa.