Thực trạng và hậu quả
Căn cứ số liệu của Liên minh Hiệp hội phần mềm quốc tế (BSA), hầu hết các phần mềm đang sử dụng ở Việt Nam là không có bản quyền. Theo phân tích, toàn bộ ngành công nghiệp Việt Nam bị tổn thất khoảng 49 tỷ đồng, nguyên do từ hành vi vi phạm bản quyền.
Ngoài ra, vi phạm bản quyền còn gây ra hàng loạt những vấn đề phức tạp khác ảnh hưởng nền kinh tế trong nước: bị thất thu về thuế, gia tăng nạn thất nghiệp, hạn chế và làm giảm thu nhập của từng cá nhân. Hơn nữa, điều này còn làm ngưng trệ quá trình đổi mới và khai thác sản phẩm mới với lý do không đủ cơ sở để tái đầu tư về tài chính và nguồn lực để sáng tạo ra những sản phẩm kế tiếp tiện ích hơn. Nền tảng của CNTT là phần mềm, hay nói cụ thể, phần mềm là lực đẩy cho sự phát triển của CNTT. Do đó, ngành công nghiệp phần mềm sẽ phát triển song song với tỷ lệ vi phạm bản quyền. Năm 2002, ngành CNTT chỉ đạt tổng giá trị 400 triệu USD, nhưng theo dự đoán sẽ có khả năng tăng trưởng mạnh nếu chúng ta giảm được 10% tỷ lệ vi phạm bản quyền trong bốn năm tới.
Theo tính toán, nếu hạn chế được tỷ lệ vi phạm bản quyền từ 95% năm 2002 xuống còn 84% sẽ tạo ra được 3.000 chỗ làm mới từ lĩnh vực CNTT, tức tạo được gấp đôi so với lực lượng đang làm việc trong lĩnh vực phần mềm cũng như các dịch vụ khác của CNTT và đóng góp vào nền kinh tế đất nước tới 750 triệu USD, từ đó doanh số của ngành cũng sẽ lên tới 400 triệu USD, đóng góp cho Nhà nước thêm 31 triệu USD tiền thuế. Rõ ràng, việc vi phạm bản quyền đang là trở ngại lớn cho sự lớn mạnh của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam, từ đó kìm hãm sự phát triển của cả hệ thống CNTT, gây những khó khăn trong việc định hình nên một thị trường phần mềm sôi động có chất lượng cao.
So với các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới có hệ thống CNTT phát triển, trong đó cơ sở hạ tầng để phát triển phần mềm cũng đã đạt đến đỉnh cao thì Việt Nam với ngành CNTT còn nhỏ bé cả về giá trị và tỷ trọng GDP nhưng đã có mức tăng trưởng trung bình hơn 16% mỗi năm về doanh thu từ phần mềm và dịch vụ tin học. Theo dự đoán của các chuyên gia phần mềm, Việt Nam có thể đạt tỷ lệ từ 76% trong ngành CNTT lên 146% trong giai đoạn 2002-2006 nếu giảm được 10% trong tỷ lệ vi phạm bản quyền. Có thể hiểu được rằng với tiềm năng là đội ngũ tri thức trẻ, năng động và sáng tạo cao, Việt Nam rất có khả năng hưởng những lợi ích từ một nền CNTT vững mạnh mang lại nhưng nếu như với tình trạng vi phạm bản quyền lũng đoạn như hiện nay thì chúng ta sẽ lạc hậu so với các nước trong khu vực.
Hơn nữa, những tác hại từ vi phạm bản quyền phần mềm sẽ làm xấu đi hình ảnh các phần mềm sản xuất trong nước, làm ảnh hưởng các phần mềm mang thương hiệu Việt Nam và rất dễ bị thiệt hại nặng nề về kinh tế khi bị kiện hoặc không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào từ phía nhà sản xuất, phần mềm nhiễm vi-rút và ẩn chứa nhiều rủi ro trong quá trình sử dụng... là những hệ quả của việc sử dụng phần mềm bất hợp pháp.
Giải pháp
Theo ông Ðỗ Khắc Chiến, Phó cục trưởng cục bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa - Thông tin) thì cần phải tăng cường hơn nữa hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Sự cưỡng chế Nhà nước trong thực thi quyền này chưa rạch ròi, các cơ quan phối hợp nhau chưa đồng bộ, lại yếu kém về kỹ năng quyết đoán các hành vi vi phạm. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng nêu trên là do ở Việt Nam vẫn chưa có trường đào tạo, giảng dạy chính quy về quyền sở hữu trí tuệ, ngay cả trong các trường đại học, thậm chí cả trường luật.
Khi nói về những khó khăn trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tại Việt Nam, ông Ngô Ðức Thịnh, Cục trưởng Quản lý thị trường (Bộ Thương mại), cho biết: Ở các nước đều có một trung tâm điều phối việc thực thi quyền SHTT còn ở Việt Nam thì rất tiếc là chưa có. Chúng tôi đang kiến nghị với các bộ và Chính phủ có thể trong tương lai gần, thành lập một trung tâm điều phối việc thực thi quyền SHTT.
Theo ông Ngô Phúc Cường, Trưởng đại diện Microsoft tại Việt Nam, yếu tố quyết định để có thể xóa bỏ nạn sử dụng phần mềm lậu là sự phối hợp chặt chẽ của Chính phủ, luật pháp, ngành công nghiệp, chủ sở hữu và phải thu hút thêm những công ty có vốn đầu tư mạo hiểm vì nguồn lực này dành cho lĩnh vực phần mềm tại Việt Nam hiện rất ít. Ðể tạo môi trường cạnh tranh, bình đẳng, thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao nhằm khuyến khích sự phát triển của ngành phần mềm trong nước, Nhà nước cần nghiêm khắc hơn luật bản quyền phần mềm tại Việt Nam.
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế, chúng ta đã và sẽ tham gia các tổ chức kinh tế thế giới. Việc thực hiện các thỏa thuận đã ký về vấn đề SHTT trong các hiệp định kinh tế sẽ là một trong những điều kiện tiên quyết mà chúng ta phải thực thi nếu chúng ta không muốn bị phạt nặng vì không tuân theo luật. Biết rằng, nếu thực hiện đúng theo những thỏa thuận đó thì chúng ta sẽ mất đi một phần ngân sách rất lớn vào việc mua bản quyền phần mềm nhưng nếu không thực hiện thì những lợi ích khác mà ta thu được cũng chính là những hiệp định đó cũng sẽ mất đi.
Câu chuyện về vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam cho tới nay vẫn chưa có hồi kết, song đã đến lúc chúng ta phải có một khung pháp lý chặt chẽ để thực thi quyền này.