Ở cuối dãy bia đá, có một người đứng im phắc như hóa đá, cúi đầu. Nắng chiều tãi trên mái tóc phất phơ, bạc trắng như vôi. Trông hao hao ngỡ dáng ông thầy dạy hồi tiểu học. Chẳng lẽ, suốt 50 năm trời, thầy vẫn thế, không thể già hơn, chỉ có mình già đi? Vẫn đứng đấy, đợi ta đi lang thang, vòng vèo, rồi lại trở về nơi bước chân đi. Từ ngày cắp sách đi học đã mài mòn bao chiếc ghế, qua bao mái trường. Giờ đã bước sang quá bên kia cuộc đời, nhớ sao hết gương mặt, nụ cười, giọng nói những thầy cô. Nhưng nhớ mãi không thể phai mờ, chỉ một mình thầy. Hồi đó, thường gọi thầy xưng con, thành kính hơn cả cha mẹ. Thầy không sinh thành, nhưng nặng công giáo dưỡng. Uốn nắn đến khắc nghiệt từ nét chữ tới lời ăn tiếng nói. "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư". Thầy thường nói, chữ nghĩa, kiến thức học cả đời chẳng hết. Nhưng khó nhất là học làm người tử tế. Thầy chỉ như người lái đò ngang, đưa các con qua sông. Con sông kiến thức, học vấn, không có bến bờ. Qua khúc sông này, các con sẽ lớn khôn hơn, học được nhiều điều hay, lẽ phải.
Ðám học trò chúng tôi ngày ấy, chưa đủ lớn khôn để thấm thía những lời thầy răn dạy. Học làm người, người tử tế chắc là khó lắm. Khó hơn cả học toán, học văn hay học sử, địa. Thầy chỉ cười mỉm độ lượng, trong mỗi con người đều có tốt và xấu, thật thà và gian dối, như có trong và đục. Có trắng và đen, sáng và tối. Thầy hay cha mẹ, tất cả người lớn, đều thế cả. "Nhân vô thập toàn", chẳng ai là tốt đẹp toàn diện. Làm sao để cái tốt lấn át cái xấu, cái thiện thắng cái ác. Mà ở đời, bao giờ học cái hay, cái tốt, tử tế cũng khó gấp bội học cái xấu xa, đen tối. Hình như những điều ấy nằm ngoài sách giáo khoa, ngoài những môn học... Mà, ở sâu trong người thầy, trong lời nói cử chỉ, trong ánh mắt. Cả khi thầy không vui, không hài lòng với đám học trò. Hồi ấy, thầy theo học trò lên lớp suốt mấy năm tiểu học, cho nên thầy hiểu tính nết, học lực của từng học sinh, cặn kẽ như cha mẹ đẻ. Hơn cả cha mẹ, có chuyện gì buồn vui, thầy là người san sẻ, giãi bày. Nhiều khi, tôi không thể hiểu vì sao, thầy có thể yêu thương, chăm lo gần bốn chục đứa trẻ như con đẻ của mình. Tình yêu nào chẳng có thiên vị, nặng nhẹ. Nhưng có lẽ, ông cố giấu kín ở trong lòng. Hiếm khi thấy ông bộc lộ tình cảm riêng tư, ưu ái với một ai. Nhà nào cũng tìm đến thăm hỏi, hiểu từng gia cảnh học trò, lúc ốm đau, khi khốn khó. Trên chiếc xe đạp cọc cạch, rệu rão, tối tối ông lại gò lưng, mải miết đạp. Ðến mức, chỉ nghe tiếng xe lọc xọc ngoài ngõ, tôi đã biết ngay là thầy đến chơi. Có cảm giác được thầy đến nhà là một vinh hạnh, một niềm vui không chỉ với tôi, mà cả cha mẹ tôi. Nhất là mẹ tôi, một điều thưa thầy, hai điều thưa thầy. Mẹ tôi thì lúc nào cũng chỉ độc một câu "Trăm sự nhờ thầy dạy dỗ cháu thành người. Nhà tôi ít chữ chẳng biết trông cậy vào ai, ngoài thầy". Thầy cười, dạy trẻ như uốn cây từ khi còn non. Cứng quá hay mềm quá cũng không được. Cốt nhất là người lớn phải làm gương cho trẻ soi vào, để chúng noi theo đó mà lớn lên, thành người. Thầy về rồi, lời nói vẫn còn đọng lại. Mẹ tôi nhìn theo bóng thầy gầy guộc khuất dần, chép miệng thở dài, con thật phúc đức được thầy dạy bảo. Nhà thầy cũng nghèo như nhà mình, như bao gia đình khác. Vợ thầy mất sớm, gà trống nuôi con, vậy mà hai con thầy đều được học hành tử tế, nên người. Chuyện này thì tôi biết rõ. Mỗi tối thứ bảy hằng tuần, đều đặn mấy đứa học lực yếu lại cắp cặp đến nhà thầy "phụ đạo". Thầy dạy bảo tận tình từng bài toán, từng bài văn. Nhưng điều mà chúng tôi học được nhiều hơn cả là những lời thấm ngấm tình người, tình cha con, tình anh em, bạn bè, hàng xóm láng giềng. Ngày ấy, chưa có ngày Nhà giáo. Chẳng có ai mang hoa, mang quà tới nhà thầy. Còn nhớ, đôi khi, cũng có một vài ông bố, bà mẹ mang biếu thầy nải chuối, cân gạo quê, gọi là chút lòng thành. Thầy nhẹ nhàng từ chối, tôi chỉ nhận tình cảm thôi. Mọi thứ khác rồi cũng hết, tình cảm thì còn mãi. Ðó là hình ảnh ấn tượng cuối cùng của thầy trong ngôi nhà thấp nhỏ, nghèo xơ xác.
Với tôi, những tháng năm ấy như dấu ấn sâu sắc nhất, như những nét chữ đầu tiên viết trên trang giấy trắng trong. Sau này, học qua nhiều trường, nhiều thầy cô, trong thâm tâm và ký ức, không che khuất được đôi mắt, nhất là giọng nói của ông giáo già. Tôi càng lớn càng thấm ngấm câu nói của thầy: "Khó nhất là học làm người tử tế". Và tôi luôn nghĩ chính vì câu nói đó mà lứa học trò chúng tôi sau này, dù chẳng là "ông nọ, bà kia", quyền cao chức trọng, nhưng không hổ thẹn trước vong linh của thầy, phụ lòng, phụ công dạy dỗ. Ngay cả cái thời, ăn chưa đủ no, áo chưa đủ ấm, chúng tôi đã tự tay cầm cục thép nguội mà rèn, tiện, phay, bào. Làm nên cái kìm, cái búa bán lấy tiền. Có thể tự tay quấn mô-tơ điện, sửa chữa bàn ghế. Những sản phẩm của một thời vừa học, vừa làm đã khiến mỗi học sinh ở tuổi ham chơi hơn ham học, cầm lấy đồng tiền có mùi mồ hôi, dính dầu mỡ. Mua được quần xanh, áo trắng ở cửa hàng mậu dịch để diện Tết. Tự tay làm lấy bảng tổng kết từng môn học. Có lẽ vì cuộc sống hồi ấy không có nhiều ham hố, hám bằng cấp, hám kiếm tiền làm giàu cho nhanh, cho nên việc học hành, thi cử cứ nhẹ như không. Không dạy thêm, học thêm, cũng không có lò luyện thi, càng không có những "chợ phao" la liệt như bây giờ. Nhiều khi, nhìn những con cháu mình, nhìn những giờ tan học, trẻ con còng lưng, "xệ cánh" vì những chiếc cặp căng phồng, nặng trĩu mà rầu lòng. Sao vào cái tuổi của chúng bây giờ, hồi đó, chúng tôi không bị học nhồi nhét, lèn chặt bao nhiêu thứ vào trong đầu. Không biết thế nào là học đến ngủ gục trên bàn, vì bao nhiêu bài tập làm thêm, nâng cao. Không biết những bài văn mẫu, toán mẫu, cứ thế mà thuộc lòng rồi chép ra hay thay vài con số. Lệch tủ một chút là cắn bút, chịu chết. Không biết cuộn từng "dây phao" dài bất tận vào người, để vào phòng thi quay cóp. Hình như sự gian dối đã trở thành một thói quen, chẳng ai thấy xấu hổ, đỏ mặt. Ðến mức, kết thúc một kỳ thi tốt nghiệp, giấy phao phơi trắng xóa khắp sân trường. Sự thật thường đắng miệng, nói ra có khi mất lòng, mất mặt. Nhưng cứ giả vờ mãi, khuất mắt trông qua, thì bao giờ nên người...
Văn Miếu đâu phải một ngôi đền, một ngôi chùa thiêng để đến cầu danh, tài, bổng lộc. Học thành người hay để vào đại học? Giao thông quá tải, bệnh viện cũng quá tải. Giờ đến lượt giáo dục quá tải, sách vở quá tải, học hành quá tải... Ðứng bên giếng Thiên Quang, trong ngôi đền văn hóa, tri thức Văn Miếu, tôi ngạc nhiên thấy bầu trời im phắc. Trống rỗng. Không biết nắng đã tắt hay mặt trời không thể rọi qua những tán cây cổ thụ. Không thể xóa mờ những nét ưu tư, lo lắng và mệt mỏi, sớm hằn sâu trên những gương mặt còn quá non, quá trẻ, bởi trong lòng luôn canh cánh, ám ảnh chuyện học hành, thi cử, bằng cấp và danh vọng. Ước gì những đứa trẻ kia, từ bé đến lớn, từ tiểu học đến đại học, mỗi một ngày đến trường là một ngày vui, lật giở mỗi trang sách là mở rộng thêm một chút cánh cửa vào đời. Mong sao học trò không bị nhồi nhét một mớ kiến thức suông, học vẹt sáo rỗng, rập khuôn, mà được dạy cách làm người. Học làm người, có khi cả đời học không xong.