Hai tay nâng chén chè

Ghi chép
Núi vẫn đứng đó, sừng sững ngang trời. Mây vẫn quấn trên đỉnh, mờ trắng như từ trăm năm nay. Chỉ thấy rừng trống trải, hoang vắng, xác xơ. Đèo dốc thấp hẳn, suối cạn kiệt, vực không còn sâu hun hút đến chóng mặt, như ngót ba mươi năm trước. Ngược con dốc dựng đứng, nhích từng bánh xe bên suối Giàng, tìm về những gốc chè shan tuyết cổ thụ.

Thu hái chè Shan tuyết cổ thụ ở xã Phình Hồ, huyện Trạm Tấu (Yên Bái).        Ảnh: THẾ DUYỆT
Thu hái chè Shan tuyết cổ thụ ở xã Phình Hồ, huyện Trạm Tấu (Yên Bái).        Ảnh: THẾ DUYỆT

Giờ, đi “phượt” nhẹ nhàng như không. Con đường mòn heo hút, cỏ cây xanh um, nay quang đãng, phẳng nhẵn như dưới xuôi. Từ dưới chân đèo, cài số phóng một mạch lên tới bãi đất trống. Từ đây lên đến những gốc chè già cội phải leo dốc đá cheo leo. Vừa chạm tới đầu dốc đã thấy đàn bà, con gái người Dao, Tày, Nùng địu từng sọt chè trên lưng dò dẫm bước xuống. Chè chất đầy ngộn, dúi cả người chúi đầu lao xuống, chỉ sảy chân lỡ bước là lộn cổ như chơi. Nắng ong ong vắt ngang đầu, mỏng manh như những sợi tơ gai thổ cẩm. Ngước lên, bóng tán chè trùm râm mát. Gốc vâm váp, một vòng tay ôm không xuể. Trâu bò buộc quanh gốc, mòn nhẵn dấu chân. Ngó quanh, chợt thấy một ông cụ ngồi im lặng, trầm ngâm dưới gốc chè cổ thụ. Nếu như không có gió phất phơ chùm râu bạc trắng vương vấn những sợi khói mờ đục nghi ngút bốc lên từ bếp củi, thì ngỡ tưởng một gốc chè. Da dẻ đồi mồi tựa gốc cây, chỗ thì mốc thếch như da trăn. Chỗ bám đầy rêu xanh, địa y trắng bệch. Mười ngón tay xương xẩu, khô khốc như những cành chè khô, rón rén rót siêu nước sôi vào chiếc ấm đất, mầu gan gà. Đang loay hoay lựa lời, ông cụ rót cho một chén nóng hổi, bốc khói. Tôi ngồi bệt trên tảng đá, nhấp chén chè nước vàng sậm mầu mật ong, hương thơm xộc lên tận đỉnh đầu. Vị chát mà ngọt lạ, không giống chè Thái vẫn thường uống. Tôi nhón tay nhặt trong rổ những búp chè mập, nần nẫn như búp đa phủ đầy lông tơ trắng muốt. Có lẽ vì thế cho nên người ta gọi là chè shan tuyết? Mãi tới lúc này ông lão mới lên tiếng. Chè rừng đấy mà, có ai trồng đâu. Chả biết đã mấy trăm năm rồi. Khi ta còn bé, chè mọc san sát khắp lưng chừng núi, ngước mỏi cổ không thấy ngọn búp. Núi càng cao, rễ cắm càng sâu xuyên qua cả đá, thế mới hút được nước, đất mà sống chứ. Nhiều cây mọc cheo leo trên vách đá, chẳng ai trèo lên hái được. Thế nên ngày trước, các cụ phải huấn luyện mấy con khỉ hái chè. Rồi buộc vào cổ chúng chiếc sọt đựng chè, chỉ hái thử vài lần là lũ khỉ bắt chước ngay. Lập tức leo ra vách núi dựng đứng, thoăn thoắt đu lên cây, hai tay bứt đầy sọt. Rặt những búp non tơ, vừa mới nhú, mỡ màng…

Những giọt nắng cuối cùng còn đọng lại trên tán chè đã tắt hẳn. Sương mờ buông hờ hững, khí núi đá se lạnh phảng phất. Bếp củi tàn lụi, nguội ngắt. Trời sập tối, tôi theo chân ông lão đủng đỉnh xuống dốc. Ông bảo uống chè ngon, mà bây giờ chẳng mấy ai biết sao chè đúng cách đâu. Nhiều nhà mua máy vò, máy sao, máy sấy, chứ có còn ai làm bằng tay như tôi đâu… Nghe vậy, nhưng đêm ấy bên bếp lửa nhà sàn, tôi mới tận mắt thấy đôi bàn tay ông lão vò những búp chè tươi non kỹ lưỡng chừng nào. Vò vừa tay, không nát gãy, nhựa chè ngấm nhuộm đen nhẻm hai bàn tay gân nổi chằng chịt như rễ cây. Ở những vùng chè mạn trung du, đàn bà, con gái thường dùng chân đạp chè trên những cái nong to. Đôi bàn chân son thôn nữ bao đời mòn mỏi đạp chè, hóa đen đủi như chân con cuốc, đi đến đâu người ta cũng nhận ra ngay. Cho nên, nay chẳng nơi nào còn vò tay hay đạp chè, đã có máy làm thay. Cũng không mấy người cầu kỳ sao chè bằng hai bàn tay trần như ông lão. Trút mẻ chè vừa vò vào chiếc chảo gang trên bếp đỏ rực than củi gộc, ông chậm rãi từng lời, hai tay đảo chè: Da thịt phải chạm vào mới biết nóng chừng nào mà cơi bớt than hay dồn thêm cho mồi búp chè xoăn đều như móc câu. Sao bằng đũa tre chẳng khác gì sao trong lò tôn quay. Chè có già lửa, non lửa cũng thế cả. Vả lại, sao tay thì mới hít sâu được hương chè mộc. Cả người thấm ngấm mùi vị tinh khiết. Chè ở đây sạch hoàn toàn vì có phải chăm bón gì đâu. Cứ để mặc cây luồn bộ rễ chắc khỏe xuống tầng đất pha đá mục mà hút màu, vươn cành lá lên trời cao uống sương trời, khí núi…

Miên man chuyện chè đến khuya chưa dứt. Từ trên đỉnh núi chon von, cây chè shan tuyết vươn cao chạm tới mây trắng, chè mọc lan xuống những vùng đồi núi, trung du. Phủ xanh trập trùng những nương chè bậc thang cao thấp. Xanh ngắt, mềm mượt như những tấm khăn vành dây, quấn từ đỉnh đồi buông thõng tới chân. Giữa những luống chè lúp xúp ngang thắt lưng là những lối đi đã mòn dấu chân bao đời con gái, đàn bà. Tôi đã lang thang trên những con đường mòn ấy, theo chân họ lên nương chè từ khi nắng chưa le lói, sương sớm còn đọng trĩu búp non. Khi nắng lên rồi mới hái, chè vừa nhạt vị, vừa kém hương. Nên lúc trời nhập nhoạng, chưa rõ mặt, mấy dãy lán í ới tiếng gọi nhau lên nương như đi chợ sớm. Lưng đeo sọt tre, ngang lưng quấn mảnh ni-lông hay tấm áo mưa cốt để sương sớm thấm đẫm thuốc trừ sâu không ngấm vào da thịt. Cuộc đời tính bằng những vụ chè. Một năm hai mùa thu hoạch chè xuân, chè thu như hai mùa gặt lúa ở quê. Nhưng làm sao vui bằng. Quanh năm suốt tháng lặp đi lặp lại chỉ một việc đơn điệu, tẻ nhạt. Hai tay thoăn thoắt hái “một tôm hai lá” cho đầy sọt. Thế là hết một ngày dài đằng đẵng. Không để tâm hôm nay là thứ mấy. Chủ nhật, ngày nghỉ lễ cũng thế cả, khác gì đâu. Có chờ đợi ai, có ai đợi chờ. Chẳng nhớ đã qua bao lứa đốn chè già, thân gốc sần sùi những vết dao ứa nhựa. Cành mới chen chúc vươn lên, chồi non, búp nõn bật nở mơn mởn, mà tuổi đời cứ héo hon, cằn cỗi lúc nào không hay. Đến khi giật mình nhìn lại đã quá lứa, lỡ thì. Có những đêm khuya ngồi bên ấm chè uống hết mấy tuần nước, thức trắng đêm với những người đàn bà có con không chồng giữa đồi núi âm u, hoang vắng, tôi mới thấy thấm ngấm vị đắng chát đến xót xa đọng lại trong đáy lòng. Chè ngon bao giờ cũng để lại hậu vị, bấy nhiêu phận người mấy ai tìm được cái kết có hậu. Một mái nhà, một tổ ấm gia đình hay chỉ là nơi trú mưa, tránh nắng. Vẫn còn đó bạt ngàn đồi nương chè lúp xúp, nhưng người thì tan tác, phiêu dạt mọi góc đất, phương trời. Có những người đã một đời trói buộc với cây chè, lặn lội vào tận cao nguyên, tìm đến đất chè trao thân, gửi phận. Cứ nghĩ, chè mọc trên đất nào cũng vậy, kiếp người có gì khác đâu. Hóa ra dễ thở, dễ sống hơn. Nhất là lại được làm chủ đồi chè, tự tay chăm sóc, nước tưới dẫn tới từng gốc chè. Tuyệt nhiên không bón một hạt phân hóa học, một giọt thuốc trừ sâu. Chỉ bón bã đậu nành mà chè tươi tốt như rau xanh. Vào mùa thu hoạch đã có công nhân chuyên hái lượm, chất lên xe chở về nhà máy gần ngay đó. Mọi việc nặng nhọc, vất vả đã có máy móc cáng đáng, không phải nhúng tay. Cả một đời sống chết với cây chè, có ai dám nghĩ, dám mơ có lúc được ngẩng mặt lên ngắm nhìn những búp chè non tơ, lấm tấm phấn trắng như sương tuyết. Rồi khi hai tay nâng chén chè, chậm rãi nhâm nhi cũng nhận thấy, sau vị chát có vị ngọt đọng lại.

Có thể bạn quan tâm