Trong nỗ lực thực hiện cam kết giảm phát thải khí methane ở lĩnh vực nông nghiệp, nguồn phát thải đáng chú ý đến từ chăn nuôi; nhưng trong trồng trọt, điểm phát thải lớn là quá trình phân hủy yếm khí các chất hữu cơ trong điều kiện đất ngập nước, nhất là ở ruộng lúa. Khi ruộng bị ngập nước kéo dài, môi trường thiếu oxy tạo điều kiện cho quá trình phân hủy yếm khí chất hữu cơ, từ đó phát sinh khí methane.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Nông nghiệp môi trường, chế độ nước trước vụ, trong vụ và cách xử lý chất hữu cơ bổ sung vào đất đều ảnh hưởng trực tiếp đến lượng methane phát thải. Nếu ruộng lúa bị ngập nước kéo dài trước vụ, hệ số phát thải tăng lên rõ rệt. Ngược lại, các biện pháp như: Giảm thời gian ngập trước vụ, rút nước giữa vụ, tưới khô ướt xen kẽ, giảm vùi rơm rạ tươi và xử lý chất hữu cơ trước khi đưa vào ruộng có thể góp phần giảm phát thải đáng kể.
Đáng chú ý, so sánh giữa các mô hình sản xuất cho thấy sự khác biệt rất lớn về mức phát thải. Ruộng lúa ngập nước có thể phát thải khoảng 13 tấn CO2 tương đương/ ha/năm, trong khi ruộng lúa áp dụng tưới khô ướt xen kẽ (AWD) giảm xuống còn khoảng 7,15 tấn CO2 tương đương/ha/năm. Mô hình lúa-tôm phát thải khoảng 6,5 tấn CO2 tương đương/ha/năm. Thực tế cho thấy, dư địa giảm phát thải trong trồng trọt là rất lớn. Điều cần thiết là đưa các giải pháp kỹ thuật thành thực hành phổ biến trong sản xuất nông nghiệp. Với người nông dân, quy trình canh tác mới có thể được chấp nhận nếu vừa giảm phát thải, không làm giảm năng suất, không tăng rủi ro và có thêm lợi ích kinh tế.
Mới đây, tại một số hợp tác xã của tỉnh Thanh Hóa, mô hình thí nghiệm AWD trong canh tác lúa do địa phương phối hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn Faeger Việt Nam triển khai trong vụ xuân và vụ mùa năm 2025 cho thấy hiệu quả rõ rệt trong giảm phát thải khí methane. Với nguyên lý không giữ nước ngập thường xuyên, cho đất khô tự nhiên rồi lại bơm nước vào trên diện tích 8.000m², ruộng áp dụng AWD so sánh với ruộng tưới truyền thống, lượng phát thải giảm tương đương khoảng 5-12 tấn tín chỉ carbon/ha. Điều quan trọng, phương pháp không làm giảm năng suất, lúa sinh trưởng tốt, sâu bệnh giảm từ 20-30%, năng suất đạt 6,4 tấn/ha vụ xuân và 5,5 tấn/ha vụ mùa, nhỉnh hơn ruộng đối chứng.
Tương tự, tại Gia Lai, dự án “Tạo tín chỉ carbon trong canh tác lúa” vụ đông xuân triển khai mô hình hơn 668ha với sự tham gia của 11 hợp tác xã do do Công ty Green Carbon Inc. (Nhật Bản) phối hợp các cơ quan chức năng thực hiện cũng đem lại nhiều kết quả rõ rệt. Kết quả đo đạc cho thấy, áp dụng AWD giúp lượng phát thải giảm còn 5,77 tấn CO2 tương đương/ha/vụ, thấp hơn 6,73 tấn so với phương pháp tưới ngập truyền thống, tương ứng mức giảm 53,8%.
Tuy nhiên, một trong những “điểm nghẽn” lớn của giảm phát thải trong trồng trọt là xử lý phụ phẩm cây trồng, nhất là rơm rạ sau thu hoạch. Theo chia sẻ của bà Vũ Thị Mão, tại xã Nam Tiên Hưng (Hưng Yên), đốt rơm rạ là cách nhanh nhất để làm sạch đồng ruộng, giải phóng mặt bằng để gieo sạ vụ lúa mới và chi phí thấp so với các phương pháp xử lý rơm rạ khác như thuê máy cuốn rơm, ủ phân hữu cơ…
Thực tế, thói quen đốt rơm rạ ngoài đồng không chỉ gây ô nhiễm không khí, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng mà còn làm thất thoát nguồn sinh khối có thể tái sử dụng. Việc vùi rơm rạ tươi không đúng thời điểm, nhất là trong vòng 30 ngày trước vụ, quá trình phân hủy trong điều kiện ngập nước có thể làm tăng phát thải methane.
Theo các chuyên gia, việc giảm phát thải có thể trở thành cơ hội gia tăng giá trị khi rơm rạ được coi là tài nguyên thay vì phế thải, nông dân và hợp tác xã có thể tham gia các chuỗi giá trị mới. Tuy nhiên, để đạt được điều đó, cần có nền tảng chính sách và hạ tầng đủ mạnh. Kế hoạch giảm phát thải methane đến năm 2030 đặt mục tiêu giảm ít nhất 30% tổng lượng phát thải khí methane so với mức năm 2020. Riêng lĩnh vực trồng trọt, mục tiêu đến năm 2030 là phát thải khí methane không vượt quá 30,7 triệu tấn CO2 tương đương. Đây là chỉ tiêu lớn, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ quản lý nhà nước đến tổ chức sản xuất ở cơ sở.
Trước hết, cần đầu tư dài hạn cho nghiên cứu giảm phát thải, loại bỏ và lưu trữ carbon; xây dựng phương pháp kiểm kê và tính toán giảm phát thải theo phương pháp bậc 3; ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật về phát thải và giảm phát thải methane; hoàn thiện hướng dẫn chi tiết và hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định. Bên cạnh đó, sớm đưa ra lộ trình cấm đốt phụ phẩm nông nghiệp, nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở và hợp tác xã. Chính quyền địa phương nên gắn giảm phát thải với quy hoạch vùng sản xuất, đầu tư thủy lợi nội đồng, tổ chức dịch vụ thu gom rơm rạ và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi xử lý phụ phẩm.
Với doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân, cần thay đổi thói quen sản xuất không đốt rơm rạ, không lạm dụng vùi rơm rạ tươi, áp dụng tưới khô ướt xen kẽ, rút nước giữa vụ, sử dụng phân hữu cơ đã xử lý, tham gia xây dựng thương hiệu gạo phát thải thấp...