(Ảnh: HNV)
(Ảnh: HNV)

Đổi mới tư duy phát triển, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới

Giai đoạn mới đòi hỏi chuyển trọng tâm sang năng suất, năng lực nội sinh, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, chuyển đổi số-xanh, chất lượng thể chế, phát triển con người. Đổi mới mô hình phát triển vì thế là đổi mới tư duy, cách phân bổ nguồn lực, mô hình doanh nghiệp, phương thức quản trị và thước đo thành công.

Mới đây, nhóm chuyên gia nghiên cứu do Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội tập hợp đã tổng hợp đề xuất nhóm kiến nghị liên quan hoàn thiện tư duy phát triển nhằm phục vụ việc củng cố mô hình phát triển đã tạo nên thành tựu của 40 năm đổi mới.

Theo nhóm nghiên cứu, cần tiếp tục kế thừa thành quả 40 năm đổi mới nhưng không thể chỉ kéo dài bằng cách tăng thêm vốn, lao động, đất đai, khai thác tài nguyên và mở rộng gia công.

Cũng theo đó, khẳng định, việc hoàn thiện tư duy phát triển, nhất là sau 40 năm đổi mới (1986-2026) đóng vai trò quan trọng trong công tác hoạch định chiến lược phát triển mô hình kinh tế mới trong kỷ nguyên mới.

Chuyển từ tư duy tăng trưởng sang tư duy phát triển toàn diện

Kiến nghị đầu tiên nhóm nghiên cứu đề xuất là thống nhất lại cách hiểu về phát triển. Tăng trưởng kinh tế tạo nguồn lực cho giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh, quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhưng tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi chuyển hóa thành đời sống tốt hơn, cơ hội rộng hơn và năng lực phát triển lớn hơn cho người dân (thực hiện tiến bộ xã hội cho con người).

Trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội (hai bộ phận cấu thành của phát triển), Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Ngô Thắng Lợi, Đại học Kinh tế Quốc dân đã cho rằng: phát triển lĩnh vực kinh tế nhằm mục tiêu gia tăng thu nhập, tạo nên và phát triển tiềm lực kinh tế của đất nước còn phát triển lĩnh vực xã hội có mục tiêu không ngừng cải thiện sự tiến bộ xã hội cho con người. Trong hai nội dung trên, thực hiện tiến bộ xã hội cho con người, với các nội dung cụ thể (theo nghĩa hẹp) là nâng cao mức sống dân cư (đo bằng mức thu nhập thực), phát triển con người (tính bằng HDI), xóa đói giảm nghèo (đo bằng tỷ lệ hộ nghèo) và thực hiện công bằng xã hội, cả theo chiều rộng (đo bằng hệ số GINI) và chiều sâu (đo bằng hệ số giãn cách thu nhập và tiêu chuẩn 40) là mục tiêu cuối cùng của phát triển, trong khi đó phát triển lĩnh vực kinh tế (thành quả được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP và GDP/người) là điều kiện cần để thực hiện mục tiêu nói trên.

Đồng quan điểm, Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn, nguyên Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng lý luận Trung ương chỉ ra rằng tư duy đổi mới của Việt Nam đã từng bước gắn kinh tế thị trường với định hướng xã hội, tăng trưởng với tiến bộ và công bằng, độc lập tự chủ với hội nhập.

Trên cơ sở phân tích trên, nhóm chuyên gia kiến nghị không đánh giá thành công của mô hình mới chỉ bằng tốc độ GDP. Cần xây dựng bảng theo dõi cân bằng gồm ít nhất năm nhóm: năng suất và giá trị gia tăng; chất lượng việc làm và thu nhập; tiếp cận dịch vụ xã hội; chất lượng môi trường và khả năng chống chịu; niềm tin, mức độ hài lòng và cơ hội tham gia của người dân. Khi một dự án làm tăng sản lượng nhưng làm suy giảm môi trường, gia tăng chi phí sống, đẩy rủi ro sang nhóm yếu thế hoặc tạo giá trị gia tăng thấp, dự án đó chưa thể được coi là thành công trọn vẹn. Tư duy phát triển toàn diện cũng đòi hỏi nhìn văn hóa như một cấu phần của năng lực phát triển. Văn hóa tạo nên hệ giá trị, kỷ luật, tinh thần hợp tác, sức sáng tạo và sức mạnh mềm; đồng thời công nghiệp văn hóa có thể tạo việc làm, thị trường và tài sản trí tuệ.

ndo_br_doimoi2.jpg
Ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong sản xuất, tăng năng suất lao động. (Ảnh: HNV)

Các chuyên gia Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thị Phương Hậu, Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đều cho rằng đầu tư cho văn hóa và con người không phải phần chi tiêu còn lại sau kinh tế, mà là đầu tư vào chất lượng phát triển dài hạn.

Kiên định mục tiêu, linh hoạt về mô hình và cách làm

Bài học tư duy nổi bật của 40 năm đổi mới là kết hợp kiên định và sáng tạo trong mô hình phát triển đất nước. Kiên định giúp giữ mục tiêu, nguyên tắc và định hướng; sáng tạo giúp điều chỉnh mô hình, bước đi và công cụ theo điều kiện thực tế.

Giáo sư Ngô Thắng Lợi đã tổng kết: bước sang quá trình đổi mới (từ 1986), mô hình phát triển của Việt Nam cũng chuyển đổi từ mô hình nhấn mạnh ngay từ đầu tiến bộ và công bằng xã hội (kể cả trong điều kiện kinh tế chưa được phát triển) sang mô hình nhấn mạnh tăng trưởng nhanh và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ngay từ đầu và trong toàn tiến trình phát triển (Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam).

Trong khi đó, Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn nhấn mạnh lý luận đổi mới được hình thành từ tổng kết thực tiễn và được kiểm nghiệm bằng thực tiễn, chứ không phải từ việc sao chép một mô hình có sẵn. Vì vậy, giai đoạn mới cần tiếp tục coi điều tra thực tế, phản biện, thử nghiệm có kiểm soát và đánh giá kết quả là một phần bình thường của quá trình hoạch định.

Nhóm chuyên gia kiến nghị xây dựng văn hóa chính sách theo tinh thần: mục tiêu dài hạn ổn định, công cụ thực hiện có thể điều chỉnh. Không nên thay đổi mục tiêu chỉ vì khó khăn ngắn hạn; đồng thời không nên giữ một công cụ đã mất hiệu quả chỉ vì đã quen sử dụng. Mỗi chương trình lớn cần có điều khoản rà soát giữa kỳ, tiêu chí tiếp tục, điều kiện điều chỉnh và tiêu chí dừng.

Tổng hợp ý kiến từ ông Đậu Anh Tuấn, Ủy viên Ban Thường trực, Phó Tổng thư ký của Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đều nhất trí, với công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới, có thể dùng sandbox và điều khoản tự hết hiệu lực để chính sách không trở thành rào cản lâu dài.

Làm rõ vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội

Mô hình mới cần một quan hệ rõ ràng, bổ trợ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Nhà nước tập trung kiến tạo luật chơi, bảo vệ quyền tài sản, duy trì cạnh tranh công bằng, đầu tư hạ tầng nền tảng, cung cấp dịch vụ công thiết yếu, xử lý thất bại thị trường và bảo vệ nhóm yếu thế.

Thị trường có vai trò phát hiện nhu cầu, phân bổ nguồn lực và sàng lọc hiệu quả. Doanh nghiệp là chủ thể tổ chức sản xuất, đổi mới, thương mại hóa và tạo việc làm. Xã hội, các hiệp hội, báo chí, cộng đồng và người dân tham gia phản biện, giám sát, cung cấp thông tin thực tế và đồng kiến tạo giải pháp. Điều quan trọng là tránh hai cực đoan. Nhà nước không nên làm thay những việc doanh nghiệp và xã hội có thể thực hiện hiệu quả; nhưng cũng không thể rút lui khỏi trách nhiệm thiết kế thị trường, bảo vệ cạnh tranh, điều tiết độc quyền, cung cấp hạ tầng chung và bảo đảm công bằng.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng gọi đây là chuyển từ “Nhà nước làm nhiều” sang “Nhà nước làm đúng”. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam bổ sung, hỗ trợ doanh nghiệp dẫn dắt phải tạo sự lớn lên của cả hệ sinh thái, không tạo “ốc đảo quy mô lớn” hoặc đặc quyền dựa trên sở hữu.

Trong khía cạnh này, các chuyên gia kiến nghị cần phân định và thực hiện đúng vai trò của các khu vực kinh tế. Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo (định hướng, dẫn dắt) khu vực tư nhân là động lực chính trong quá trình phát triển (quyết định quy mô và tốc độ phát triển) và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò bổ trợ quan trọng.

Giáo sư Ngô Thắng Lợi đã ví nền kinh tế như một con tàu đang đi đến đích thì kinh tế nhà nước giống như đường ray hướng đích, kinh tế tư nhân là đầu tàu, động lực quyết định tốc độ và sức mạnh của đoàn tàu, còn các FDI là những nhà ga, bến đỗ để tiếp sức cho đoàn tàu tăng tốc.

Chuyển từ tư duy ngành riêng lẻ sang quản trị vấn đề phát triển

Nhiều vấn đề mới vượt qua ranh giới bộ, ngành và địa phương. Một chuỗi bán dẫn liên quan đồng thời đến đầu tư, công nghiệp, giáo dục, khoa học, năng lượng, dữ liệu, logistics và ngoại giao kinh tế.

Phát triển công nghiệp văn hóa liên quan đến văn hóa, công nghệ, sở hữu trí tuệ, tài chính, du lịch, giáo dục và thương mại. Giảm nghèo bền vững liên quan đến sinh kế, đào tạo, y tế, nhà ở, dữ liệu, khí hậu và an sinh. Nếu mỗi cơ quan chỉ tối ưu phần việc của mình, kết quả chung có thể bị chia cắt.

Vì vậy, nhóm chuyên gia kiến nghị tổ chức điều phối theo “bài toán phát triển” hoặc chuỗi giá trị, có một cơ quan chủ trì và cơ chế phối hợp bắt buộc. Ngân sách, dữ liệu và trách nhiệm cần đi cùng nhiệm vụ. Các địa phương cần được phân quyền đủ mạnh trong những việc họ có thông tin tốt hơn, trong khi Trung ương tập trung vào chiến lược, tiêu chuẩn, điều phối liên vùng và giám sát kết quả. Phân quyền phải đi đồng bộ với nguồn lực, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực như đề xuất của Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng và Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội.

Kiến nghị hành động về đổi mới tư duy

Nhóm chuyên gia kiến nghị: Đưa nội dung “phát triển khác tăng trưởng như thế nào” vào chương trình quán triệt và đào tạo cán bộ; yêu cầu liên hệ bằng nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan.

Ban hành khung đánh giá chính sách đa mục tiêu, trong đó mọi chính sách lớn phải nêu tác động dự kiến đến năng suất, việc làm, nhóm yếu thế, môi trường, văn hóa và ngân sách.

Quy định bắt buộc đánh giá sau chính sách và công bố kết quả; kết luận đánh giá phải dẫn đến quyết định tiếp tục, sửa đổi, mở rộng hoặc dừng.

Tạo cơ chế tiếp nhận phản ánh từ người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học và báo chí theo từng vấn đề; công khai cơ quan xử lý và thời hạn trả lời.

Bảo vệ người dám thử nghiệm vì lợi ích chung khi đã tuân thủ quy trình, minh bạch, không vụ lợi; đồng thời giữ kỷ luật nghiêm với tham nhũng, lợi ích nhóm và cố ý làm trái.

Có thể bạn quan tâm