Kỳ 2 : Chuẩn hóa và chuyên môn hóa cán bộ, công chức cho cơ sở
Yêu cầu nâng cao chất lượng, đặc biệt là nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chính trị của đội ngũ cán bộ cơ sở, đặt ra nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, vừa có tác động trực tiếp và lâu dài tới sự phát triển chung của các địa phương. hiệu quả của quá trình CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cơ sở.
Thực trạng và yêu cầu của thực tiễn
Trao đổi ý kiến với chúng tôi về kinh nghiệm và nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, ông Lê Ðức Hòa, Phó trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang, cho biết, cán bộ là nhân tố quyết định. Cần chuẩn hóa cán bộ, công chức mới nâng cao được chất lượng hệ thống chính trị. Song, việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ sở khu vực nông thôn có nhiều khó khăn vì có tới 80% số cán bộ ở xã, thôn, bản là người về hưu và 60% không đạt chuẩn, còn tới gần 38% chưa qua bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, rất ít người biết sử dụng công nghệ thông tin trong công việc. Trong khi đó nguồn phát triển đảng ở nông thôn đã "cạn kiệt", hiện tại có tới 50% số trưởng thôn không phải là đảng viên. Chủ trương thu hút sinh viên về công tác tại xã làm nguồn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở địa bàn nông thôn cũng mới chỉ là bước đầu, còn nhiều vướng mắc nên thu hút không được bao nhiêu. Vùng cao, vùng đồng bào dân tộc còn khó hơn.
Ở Trà Vinh, qua điều tra, khảo sát cho thấy trong đội ngũ cán bộ cơ sở ở 102 xã, phường, thị trấn, 783 ấp, khóm vẫn còn tới gần 100 người giữ các cương vị lãnh đạo chỉ có trình độ văn hóa bậc tiểu học. Nhiều xã gặp khó khăn về cán bộ chủ chốt phải sử dụng những cán bộ đã về hưu tham gia Ban Chấp hành Ðảng bộ cơ sở. Tỉnh có gần một phần ba dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, tập trung đông đồng bào Khmer, số cán bộ là người dân tộc Khmer, người Hoa và cán bộ nữ chưa nhiều, trình độ thấp. Ðây là một khó khăn của Trà Vinh trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương.
Ông Dương Hòa Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh nhận xét: Thực trạng đội ngũ cán bộ cơ sở của Trà Vinh cho thấy, cán bộ chủ chốt vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về trình độ chuyên môn và năng lực quản lý điều hành. Vấn đề chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở đặt ra cho Trà Vinh nhiều vấn đề về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cũng như công tác luân chuyển cán bộ, bố trí sử dụng các lớp cán bộ và tạo nguồn cán bộ kế cận cho tương lai...
Sau khi khảo sát đánh giá, nghiên cứu nắm rõ thực trạng đội ngũ cán bộ cơ sở, tháng 12-2006, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh đã xây dựng Quy định tạm thời về chính sách trợ cấp đối với những cán bộ chưa đạt chuẩn, do trình độ năng lực, do tuổi tác và sức khỏe, không bảo đảm công việc được giao có yêu cầu nghỉ việc, chờ về hưu. Quy định này đánh số 222 vẫn được anh em gọi tắt là "quy định ba số 2"... Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy phối hợp Sở Nội vụ thành lập Ban chỉ đạo thực hiện quy định này. Các huyện thành lập Ban chỉ đạo của huyện mình để chỉ đạo các phường, xã, thị trấn triển khai thực hiện.
Ông Nguyễn Minh Thương, Bí thư Huyện ủy Càng Long, cho chúng tôi biết: Việc đánh giá từng cán bộ ở cơ sở dựa trên những tiêu chí cụ thể về trình độ học vấn, trình độ chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe, tuổi tác... được tiến hành dân chủ công khai và được hội nghị Ban Chấp hành biểu quyết. Các cấp ủy cũng đồng thời làm tốt công tác tư tuởng, động viên, vận động những người không đạt chuẩn và không có điều kiện học tập tự nguyện viết đơn xin nghỉ và hưởng trợ cấp theo quy định.
Trong buổi làm việc với chúng tôi, ông Nguyễn Chí Cường, Phó trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Trà Vinh, thông báo: Mặc dù còn nghèo nhưng trong năm 2007, hơn 3,6 tỷ đồng đã được chi để giải quyết trợ cấp cho những cán bộ nghỉ việc theo Quy định "ba số 2".
Trà Vinh cũng có kế hoạch để sớm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức. Với những cán bộ chưa đạt chuẩn nhưng còn trong độ tuổi thì cho "nợ" để học tập nâng cao trình độ. Tỉnh đặt ra thời hạn cụ thể từ một đến hai năm để tiếp tục đào tạo cho đạt chuẩn về trình độ chuyên môn và chính trị. Với gần 43% số cán bộ chưa đạt chuẩn thì khoảng thời gian hai năm cho việc chuẩn hóa đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu quyết liệt của các cấp ủy và số cán bộ phải bồi dưỡng đào tạo lại. Qua một năm rốt ráo thực hiện các giải pháp theo tinh thần chỉ đạo của Quy định "ba số 2", tỉnh Trà Vinh đã tích cực giải quyết chính sách trợ cấp một lần và tiếp tục đào tạo thêm được hơn 400 cán bộ đạt chuẩn. Trong năm 2008, công việc này vẫn tiếp tục để chuẩn hóa số cán bộ chưa đạt chuẩn...
Tìm hiểu thực tế ở Trà Vinh, chúng tôi cảm nhận, không phải không có những băn khoăn của những cán bộ vốn đã quen với công việc đã thành nếp, bình lặng, không muốn thay đổi môi trường, không khí làm việc, ngại học tập tiếp thu kiến thức, công nghệ thông tin nhưng vì sự phát triển chung của địa phương, vì sự vững mạnh của đội ngũ, những tâm tư riêng cũng được quan tâm giải quyết dần để đạt tới đồng thuận.
Ðồng thời với việc từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chủ chốt và công chức ở cơ sở, từ năm 2003, Tỉnh ủy Trà Vinh đã xây dựng và thực hiện Ðề án số 03 về đào tạo cán bộ công chức trẻ. Xác định đây là nguồn cung cấp đội ngũ cán bộ cho xã, phường, thị trấn, dự kiến trong năm năm, Trà Vinh sẽ đào tạo khoảng 400 cán bộ trẻ, được trang bị đầy đủ kiến thức và rèn luyện về chính trị để thay thế đội ngũ cán bộ chưa đạt chuẩn. Trong giai đoạn 1 từ năm 2004 đến 2007, tỉnh mở hai lớp với gần 200 học viên. Các học viên, tuổi không quá 23, được Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, cấp ủy và UBND các địa phương xét tuyển, chú trọng trong số con em các gia đình thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số và những cán bộ trẻ đang công tác tại xã phường, thị trấn.
Với hình thức đào tạo tập trung, sau 40 tháng học tập, các cán bộ trẻ sẽ có trình độ trung học chính trị và trình độ chuyên môn bậc trung học hoặc cao đẳng ngành phát triển nông thôn (chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản). Trà Vinh thực hiện chính sách không thu học phí và hỗ trợ hằng tháng cho mỗi học viên với cam kết sau khi tốt nghiệp sẽ trở về phục vụ tại địa phương nơi cử đi học. Ðây là nguồn quan trọng cung cấp cán bộ cơ sở có chất lượng tốt cho Trà Vinh, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và trẻ hóa đội ngũ cán bộ. Những cán bộ trẻ được đào tạo đúng chuyên ngành, được bố trí đúng việc, đúng địa chỉ sẽ giữ vai trò chính đẩy mạnh CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn ở Trà Vinh trong những năm tới.
Một nguồn cán bộ khác được Trà Vinh "mạnh tay" khai thác là những người tốt nghiệp đại học. Mỗi cử nhân mới ra trường, nếu về công tác tại các xã, phường, thị trấn và các hợp tác xã, được sắp xếp vào những chức danh theo quy định của Chính phủ, sẽ được nhận ngay mức lương khởi điểm và 5 triệu đồng trợ cấp ban đầu. Ngoài ra, hằng tháng còn được nhận thêm trợ cấp của tỉnh. Tỉnh cho phép mỗi xã có thể nhận tới năm cán bộ có bằng đại học, mỗi hợp tác xã có thể nhận hai người. Với mỗi cán bộ về địa phương, trong năm năm công tác đầu tiên có trách nhiệm nghiên cứu xây dựng hoặc tổ chức ứng dụng có hiệu quả một số đề tài về kinh tế - xã hội tại nơi mình công tác. Những đề tài này nếu được thẩm định đánh giá tốt sẽ được tỉnh thưởng thêm tối thiểu một triệu đồng... Tất cả những ưu đãi đó chỉ kèm theo một điều kiện sẽ phục vụ tại cơ sở ít nhất năm năm.
Trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nông thôn, từ năm 2006, Tỉnh ủy Bắc Giang triển khai đề án xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Giải pháp chủ yếu là tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt ở cơ sở theo hướng chuẩn hóa, chuyên môn hóa, trẻ hóa, gắn với quy hoạch đội ngũ cán bộ cơ sở.
Ðối tượng trong diện đào tạo, bồi dưỡng từ nay đến năm 2010 và những năm tiếp theo là những cán bộ đương chức và cán bộ dự nguồn các chức danh chủ chốt ở cơ sở, trong đó chú trọng đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ ở vùng sâu, vùng cao. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng toàn diện cả lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ nông nghiệp, nông thôn và tin học để từng bước đạt chuẩn theo chức danh cho cán bộ, công chức. Cán bộ nguồn đã qua công tác thực tế, sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học tự nguyện về xã công tác, qua học tập, bồi dưỡng, có thành tích nổi trội được quan tâm phát triển đảng.
Tìm hiểu những chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh Bắc Giang, chúng tôi nhận thấy, việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cho cơ sở được Ban Thường vụ Tỉnh ủy hết sức quan tâm, trước hết là đối với đội ngũ giảng viên trong hệ thống trường chính trị và trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện. Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ sở đào tạo phối hợp các trường đại học, cao đẳng đào tạo các chương trình chuyên môn, nghiệp vụ và chăm lo xây dựng cơ sở vật chất, có chính sách phù hợp cho giảng viên và học viên. Nhờ đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cho cơ sở được bảo đảm. Mặt khác, Tỉnh ủy Bắc Giang thường xuyên kiểm tra, công tác đào tạo cán bộ, yêu cầu các cơ quan chức năng, cơ sở đào tạo nghiêm túc trong học và thi, chống các biểu hiện gian lận, tiêu cực trong các kỳ thi, sát hạch, tuyển đầu vào...
Dồn sức cho cơ sở
Ông Ðinh Văn Vượng, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Thuận, cho rằng, để nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở nông thôn, trước tiên là cấp ủy và các ban, ngành cấp trên phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Trung ương là dồn sức chỉ đạo cho cơ sở, mọi công tác, hoạt động phải hướng về cơ sở, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ sở theo phương châm "tỉnh nắm xã, huyện nắm thôn, xã nắm hộ dân". Cấp ủy các cấp phải dồn sức củng cố tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở.
Tìm hiểu thực tế hoạt động hệ thống chính trị một số địa phương, chúng tôi ghi nhận, các tổ chức cơ sở đảng về cơ bản đã làm được vai trò là hạt nhân lãnh đạo đối với chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Việc lãnh đạo và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở xã được đẩy mạnh, nên nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào việc xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Việc củng cố các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở đã góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, cải tiến lề lối, phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên.
Ðối với những cơ sở có biểu hiện vi phạm quyền làm chủ tập thể của nhân dân, có đơn thư tố cáo các sai phạm của cán bộ, đảng viên, các cấp ủy chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, kết luận rõ ràng, thông báo công khai và xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm. Còn ở các cơ sở xảy ra tình trạng mất ổn định thì cấp ủy và cả hệ thống chính trị cơ sở đã theo dõi, nắm diễn biến để đánh giá đúng tình hình để làm tốt công tác tư tưởng trong Ðảng, trong nhân dân, phân tích các nguyên nhân, chỉ rõ khuyết điểm, yếu kém của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Nhiều cấp ủy kịp thời đề ra chủ trương, giải pháp mà trước hết tạo sự đồng thuận về nhận thức và hành động trong tổ chức đảng và trong nhân dân để ổn định tình hình.
Kinh nghiệm và bài học đúc kết qua xử lý các điểm nóng, mất ổn định ở các địa phương là cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến thôn, bản đều vào cuộc, dựa vào các nòng cốt trong đảng, trong dân và xử lý nghiêm theo kỷ luật đảng, pháp luật những cán bộ, đảng viên thoái hóa, các phần tử cơ hội. Còn đối với những người do nhẹ dạ, cả tin bị kích động, lôi kéo, tùy từng đối tượng mà phân công cán bộ, đảng viên, các đoàn thể, cá nhân kiên trì vận động, thuyết phục, tạo điều kiện cho họ sinh hoạt, sống hòa nhập trong đời sống cộng đồng ở địa bàn dân cư.
Ðể nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, thực tiễn ở nhiều địa bàn nông thôn, vùng núi như Ninh Thuận, Trà Vinh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Phú Yên, Bắc Giang, Quảng Bình là những nơi chúng tôi tìm hiểu, điều tra, nghiên cứu, cùng với việc chăm lo đào tạo cán bộ chủ chốt cho cơ sở, thiết thực đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn, cấp ủy tỉnh các địa phương còn tập trung chỉ đạo cấp ủy huyện và xã sửa đổi, bổ sung và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là quy chế của cấp ủy, HÐND, UBND, các đoàn thể chính trị, xã hội.
Quy chế này bảo đảm công khai, dân chủ trong hoạt động của từng tổ chức trong hệ thống chính trị, xác định rõ trách nhiệm cá nhân của cán bộ chủ chốt trong lãnh đạo, điều hành, giải quyết công việc, nhất là những công việc liên quan trực tiếp đến quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của từng tổ chức với nhân dân trên địa bàn. Ðiểm nổi bật là, yêu cầu đảng bộ cấp xã phải thật sự nghiêm túc thực hiện nội dung nhận xét, đánh giá cán bộ lãnh đạo chủ chốt hằng năm; nâng cao tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, thực hiện công khai tự phê bình và phê bình theo phương châm "Trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau".
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị nông thôn là yêu cầu bức thiết góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống cư dân nông thôn và đẩy mạnh CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn. Kinh nghiệm của một số địa phương trong đổi mới hệ thống chính trị cơ sở nông thôn nêu trên rất đáng ghi nhận, cần được tiếp tục tổng kết và phát huy trong điều kiện Ðảng ta xây dựng và thực hiện những chính sách về "tam nông" hiện nay.