Trước hết cần khẳng định, độc quyền Nhà nước trong một số lĩnh vực vẫn tồn tại và có ý nghĩa trong thực tiễn, bất chấp xu thế chung không thể đảo ngược là độc quyền Nhà nước sẽ dần dần bị thu hẹp để chuyển sang cơ chế thị trường cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt thành phần kinh tế. Khoản 4 Ðiều 6 Luật Thương mại 2005 quy định rõ: "Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia. Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước". Vì vậy, việc Bộ Công thương được Chính phủ giao soạn thảo Nghị định cụ thể hóa quy định của Luật Thương mại 2005 là hoàn toàn hợp lý và hợp pháp. Hơn nữa, (Ðiều 33) Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm", cho nên việc sớm ban hành danh mục những lĩnh vực thuộc độc quyền Nhà nước là điều kiện quan trọng để thực thi quyền tự do kinh doanh mà không phải lo lắng về những "khoảng trống" của pháp luật. Ðặc biệt, phong trào khởi nghiệp được phát động từ năm 2016 dựa trên những ý tưởng kinh doanh táo bạo, đột phá, sáng tạo rất cần làm rõ những khu vực pháp luật cấm để tránh rủi ro ngay từ những bước đi đầu tiên. Thêm vào đó, từ năm 2018, Việt Nam sẽ được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ theo cam kết gia nhập WTO, theo đó, quy định cụ thể về lĩnh vực độc quyền Nhà nước là căn cứ quan trọng để triển khai quyền tiếp cận thị trường Việt Nam cho các nhà đầu tư nước ngoài theo các thông lệ và chuẩn mực quốc tế đã cam kết.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không phải là có ban hành Nghị định về độc quyền Nhà nước hay không mà là xác định đúng những hàng hóa, dịch vụ, địa bàn nào thực hiện độc quyền Nhà nước trong hoạt động thương mại nói riêng, hoạt động kinh tế nói chung. Muốn vậy, việc lựa chọn những hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thuộc độc quyền Nhà nước trong lĩnh vực thương mại cần tuân thủ nghiêm túc và đầy đủ các nguyên tắc cơ bản sau: Xác định đúng và rõ ràng vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Bên cạnh đó, tiêu chí lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thuộc độc quyền Nhà nước dựa vào mức độ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và quyền tự chủ kinh tế quốc gia. Ðến lượt mình, an ninh quốc gia và tự chủ kinh tế không phải là phạm trù cứng nhắc, bất động mà có tính lịch sử và biện chứng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ nhất định. Tư duy xuyên suốt phải là tối thiểu hóa những lĩnh vực thuộc độc quyền Nhà nước dựa trên căn cứ: chỉ giữ độc quyền Nhà nước khi thị trường không được phép làm; nếu thị trường không thể hoặc không muốn làm thì phải có cơ chế, chính sách thích hợp để khuyến khích thị trường muốn làm và có thể làm. Việc thực hiện độc quyền Nhà nước phải đồng bộ, nhất quán, không có ngoại lệ, đồng thời ngăn chặn lạm dụng độc quyền Nhà nước, chống núp bóng hay biến tướng và biến độc quyền Nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, độc quyền cục bộ địa phương, độc quyền nhóm,…
Tóm lại, xác định rõ hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thuộc độc quyền Nhà nước trong hoạt động thương mại phải dựa trên những căn cứ lý luận và thực tiễn vững chắc, khoa học và khả thi. Có như vậy mới tạo dựng môi trường kinh doanh thật sự lành mạnh, minh bạch, bình đẳng và có sức cạnh tranh cao.