Nhân ngày dân số Việt Nam 26-12

Ðiều chỉnh quy mô dân số phù hợp phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Khám bệnh, chăm sóc sức khỏe
cho trẻ em ở Trạm y tế xã Khun Háng
(Phong Thổ, Lai Châu).
Khám bệnh, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em ở Trạm y tế xã Khun Háng (Phong Thổ, Lai Châu).

Cùng với quan điểm đó, trải qua 45 năm triển khai thực hiện, chính sách dân số không ngừng được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn nhằm giảm tốc độ gia tăng quy mô dân số, điều chỉnh cơ cấu dân số, phân bố lại dân cư và nâng cao chất lượng dân số. Ngoài văn bản đầu tiên về chính sách dân số, chúng ta không thể không kể tới những văn bản ghi lại những dấu ấn đậm nét qua thời gian 45 năm thực hiện chính sách dân số để giải quyết những yêu cầu của thực tiễn và cho đến nay chúng ta đã và vẫn đang thực hiện. Ðó là: Nghị quyết số 04-NQ/HNT.Ư ngày 14-1-1993 về chính sách DS-KHHGÐ của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa VII với mục tiêu cụ thể mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con, để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có hai con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ 21 và một hệ thống quan điểm, giải pháp đồng bộ để ổn định quy mô dân số (Nghị quyết được ban hành khi tỷ lệ sinh vẫn còn ở mức 30,04%o, dân số Việt Nam đã lên đến 70 triệu người, tỷ lệ phát triển dân số hằng năm vẫn trên 2%, bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có gần 4 con và nếu vẫn duy trì tốc độ này thì cứ khoảng 30 năm một lần dân số Việt Nam sẽ tăng gấp đôi); Chiến lược DS-KHHGÐ đến năm 2000; Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010; Pháp lệnh Dân số năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Nghị quyết số 47-NQ/T.Ư ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGÐ; Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/T.Ư ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị. Ðây là những văn bản điều chỉnh toàn diện các yếu tố dân số về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số, phân bố dân cư và kịp thời giải quyết những yêu cầu thực tiễn của công tác dân số nhằm duy trì mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con để ổn định quy mô dân số, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững, bảo đảm cơ cấu dân số và phân bố dân cư hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

45 năm qua là cả một quá trình phấn đấu gian khổ và bền bỉ của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta trong việc kiên trì thực hiện mục tiêu ổn định quy mô dân số bằng một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó giải pháp về lãnh đạo và tổ chức là giải pháp tiên quyết; thông tin - giáo dục - tuyên truyền, dịch vụ KHHGÐ và chính sách - chế độ là giải pháp cơ bản; tài chính - hậu cần, đào tạo - nghiên cứu và quản lý là giải pháp điều kiện. Những kết quả đạt được của công tác dân số đã khẳng định hiệu quả của các chủ trương, chính sách dân số phù hợp thực tiễn cuộc sống.

Từ một nước có mức sinh rất cao với số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 6,4 con vào năm 1960 đã giảm xuống còn 2,1 con (đạt mức sinh thay thế) vào năm 2005 và 2,09 con năm 2006 (năm thứ hai liên tiếp duy trì mức sinh thay thế); tỷ lệ phát triển dân số từ trên 3% vào những năm 60 của thế kỷ trước đã giảm xuống còn 1,33% vào năm 2005; quy mô số dân năm 2005 ở mức 83,1 triệu người, thấp hơn khoảng 6 triệu người so với mục tiêu Nghị quyết T.Ư 4 (khóa VII) đề ra (89,15 triệu người), bình quân mỗi năm tránh sinh được khoảng nửa triệu người.

Cơ cấu dân số đã có những biến đổi quan trọng, chuyển từ "cơ cấu dân số trẻ" sang giai đoạn "cơ cấu dân số vàng" với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động năm 2006 là 64,5% và sẽ đạt mức cao nhất là 69,1% năm 2019. Quản lý dân cư bước đầu có chuyển biến. Chất lượng dân số đang từng bước được cải thiện. Chỉ số phát triển con người đạt 0,704 điểm, xếp thứ 108/177 nước năm 2005, dự kiến sẽ đạt được mục tiêu của Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010. Một số mô hình nghiên cứu, thử nghiệm về nâng cao chất lượng dân số như: tư vấn, kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân; cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS cho vị thành niên và thanh niên; nâng cao chất lượng dân số tại cộng đồng; hỗ trợ sinh sản cho những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn; sàng lọc trước sinh và sơ sinh để phát hiện và xử lý sớm những bệnh bẩm sinh... đã được đánh giá có hiệu quả, từng bước nhân rộng và phát huy tác dụng ở nhiều địa phương.

45 năm qua, chúng ta cũng đã rút ra được sáu bài học kinh nghiệm quý báu về chính sách dân số:

Một là, mục tiêu và giải pháp của chính sách dân số phù hợp với nguyện vọng và thật sự đem lại lợi ích cho nhân dân.

Hai là, sự cam kết của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự thành công của công tác dân số.

Ba là, có tổ chức bộ máy chuyên trách đủ mạnh và được bố trí đến tận thôn, ấp, bản, làng và tổ dân phố.

Bốn là, thực hiện tốt việc xã hội hóa và huy động được toàn xã hội tham gia công tác DS-KHHGÐ.

Năm là, thực hiện đồng bộ các hoạt động truyền thông gắn liền với cung cấp dịch vụ KHHGÐ thuận tiện, an toàn, có chất lượng, đến tận người dân và có các chính sách khuyến khích phù hợp, tạo động lực thúc đẩy phong trào thực hiện chính sách dân số sâu rộng trong toàn dân.

Sáu là, chú trọng nghiên cứu tác nghiệp phục vụ nhu cầu quản lý, tăng mạnh đầu tư cho công tác DS-KHHGÐ và có cơ chế quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư.

Vào lúc số dân thế giới đạt tới con số ba tỷ người và số dân Việt Nam vừa vượt qua con số 30 triệu thì Chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định số 216/CP ngày 26-12-1961 về việc sinh đẻ có hướng dẫn với mục đích: "Vì sức khỏe của bà mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận trong gia đình và để nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn chu đáo". Mục tiêu của quyết định này là hướng dẫn, khuyến khích nhân dân thực hiện quy mô gia đình ít con để bảo đảm hạnh phúc trong mỗi gia đình, để bảo vệ sức khỏe của người mẹ và để nuôi dạy con cái một cách tốt nhất. Ðể đạt mục tiêu đó phải làm cho nhân dân nhận thức đầy đủ lợi ích của KHHGÐ đối với mỗi người, gia đình, cộng đồng, xã hội và tự nguyện thực hiện các biện pháp KHHGÐ.

Mặc dù công tác dân số đã đạt được những kết quả nhất định, nổi bật là sự thành công trong việc kiềm chế tốc độ phát triển dân số quá nhanh ở nước ta. Nhưng những kết quả đó mới chỉ là thành tựu bước đầu, chưa vững chắc và hiện nay Việt Nam vẫn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức rất lớn trong quá trình giải quyết thành công các vấn đề dân số. Quy mô dân số lớn, tốc độ tăng dân số vẫn còn ở mức cao đang và sẽ vẫn là những cản trở lớn đối với sự phát triển của Việt Nam. Sự thay đổi cơ cấu dân số đang đặt ra những vấn đề bức xúc. Số người bước vào độ tuổi lao động tăng nhanh đòi hỏi phải đầu tư rất lớn cho việc đào tạo nguồn nhân lực. Di dân diễn biến phức tạp, rất khó kiểm soát. Chất lượng dân số tuy đã được cải thiện nhưng vẫn đang là yếu tố cản trở sự phát triển và đặt nước ta trước nguy cơ tụt hậu xa hơn.

Nước ta đã chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bên cạnh những cơ hội thì một trong những thách thức mà chúng ta sẽ gặp phải là trên thế giới sự "phân phối" lợi ích của toàn cầu hóa là không đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự "phân phối" lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hóa; nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hóa giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Ðiều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện tốt chủ trương của Ðảng "Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển". Vì vậy, trong thời gian tới, chương trình DS-KHHGÐ phải tập trung ưu tiên mạnh hơn đến khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Với kinh nghiệm phong phú và những bài học quý giá trong 45 năm qua, chương trình dân số Việt Nam cần vươn lên những tầm cao mới, mà nhiệm vụ quan trọng nhất là bảo đảm duy trì được mức sinh thay thế để ổn định quy mô dân số vào giữa thế kỷ 21, tạo điều kiện để mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Ngày 26-12-1961 đã trở thành một mốc lịch sử quan trọng của chương trình dân số Việt Nam, được coi là sự kiện Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia chương trình dân số toàn cầu, ngày đánh dấu sự khởi đầu về nhận thức được ý nghĩa của mối quan hệ giữa dân số và phát triển trong tiếng chuông báo động về tình hình gia tăng dân số quá nhanh trên thế giới.

Có thể bạn quan tâm