Hoa đoọc-khun của người Lào cũng giống như hoa đào của người Việt, chỉ khác là hoa đào đỏ phai còn đoọc-khun vàng như mai vàng miền nam, như sắc áo cà sa mà ta thường gặp ở bất cứ chùa chiền nào trên đất nước Triệu Voi.
Tết Bunpimay thường bắt đầu từ ngày 13 tháng 4 dương lịch hằng năm, tưng bừng nhất vào hai ngày sau đó. Ðằm thắm trong ánh mắt, nụ cười; nghiêm trang, thanh cao trong nghi lễ; rộn rã, vui nhộn trong tục lễ té nước; có lẽ vì thế mà Tết Bunpimay còn được gọi là Bunhốtnậm - Tết Té nước.
Tôi và mấy người bạn đang tản bộ trên đường phố Viêng Chăn, bỗng một nhóm thanh niên đứng trên chiếc xe tải chở đầy nước ào ạt, tới tấp gửi tặng một trận mưa nhân tạo và những tiếng cười sảng khoái. Ướt hết. Một chiếc xe nữa chạy qua, lại ướt. Cứ vậy mà đi, chẳng ai tỏ ra khó chịu, lại còn vui sướng nữa.
Quốc lộ 13 xuyên từ Nam lên Bắc Lào, khác hẳn ngày thường, nhộn nhịp xe cộ và hầu như đều đi về một hướng.
Ở Lào, cùng với phương tiện vận tải của nhà nước thì xe tư nhân chiếm một tỷ lệ khá lớn; và đa phần là xe Kabạ - một loại xe bán tải, rất tiện lợi cho các gia đình khá giả người Lào. Suốt dọc tuyến đường dài hơn 500 km từ Viêng Chăn đi Luăng Phrabăng, tục té nước diễn ra trăm hình vạn vẻ. Chiếc xe 15 chỗ ngồi của chúng tôi được "hốt nậm" đến mấy lần, nước dội thẳng vào giữa mặt. Bừng tỉnh. Cười vui. Tan cả cơn buồn ngủ.
Xe chạy qua phần đất phía tây bắc tỉnh Xiêng Khoảng, đến đoạn đèo Ka Xỉn, tất cả mọi người trong xe đều cùng lúc ra khỏi cơn buồn ngủ chập chờn. Con đường chúng tôi đang đi, ngày chiến tranh từng thấm máu bộ đội Pha Thét Lào, quân tình nguyện Việt Nam, nay một số công nhân làm đường của hai nước lại tiếp tục đổ mồ hôi, thậm chí đổ máu. Quân và dân Lào đến với Bunpimay của mình không chỉ bằng hoa đoọc-khun, lễ hội té nước, mà cả những lo toan, thử thách khắc nghiệt của sự sinh tồn, phát triển trong giai đoạn mới.
Sau tám giờ xe chạy, từ trên triền núi cao, Luăng Phrabăng hiện ra trước mắt với sông Mê Công và sông Khan lấp lánh dưới ánh mặt trời.
Trước ngày lễ trọng Bunpimay, chúng tôi được mời leo lên 328 bậc đá thăm Vát Xiêng Thoong - một ngôi chùa cổ kính trên núi Phu Xí, đối diện với hoàng cung xưa. Ngôi chùa và ngọn núi là biểu tượng thiêng liêng, cao cả của cố đô Luăng Phrabăng, cũng giống như Tháp Rùa, Ðền Ngọc Sơn và Hồ Gươm của Hà Nội nghìn năm văn hiến. Chúng tôi được nhà sư trụ trì Vát Xiêng Thoong - một ngôi chùa lớn có tuổi đời trên 400 năm vẩy nước phước, thứ nước thơm của hoa đoọc-khun, hoa chăm-pa, hoa đoọc-hạc cùng những lời chúc tốt lành.
Lào là đất nước của Bun (lễ hội). Quanh năm từ tháng Giêng đến tháng Chạp, tháng nào cũng có vài ba lễ hội. Cả năm có hơn 40 lễ hội quy mô quốc gia. Cả nước có gần 700 ngôi chùa. Mặc dù nền kinh tế Lào đang gặp một số khó khăn, tốc độ tăng trưởng chưa thật cao và bền vững nhưng các bun, hội đã khêu gợi nơi người dân lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc. Bản sắc văn hóa Lào được giữ gìn và phát huy mạnh mẽ.
Ấn tượng sâu đậm nhất trong Tết Bunpimay mà chúng tôi không thể quên là tình cảm gắn bó, sự quý trọng, yêu thương mà nhân dân Lào dành cho những người anh em Việt Nam. Tình cảm đó đã dệt nên tình vợ chồng Coong Khăm - Mai Phương, chồng Lào vợ Việt. Coong Khăm học 7 năm tại Học viện Báo chí - Tuyên truyền, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Mai Phương công tác ở một tờ báo của Hà Nội. Họ yêu nhau, cưới nhau, sinh con đầu lòng ở Việt Nam và đưa nhau về Viêng Chăn. Coong Khăm hiện làm ở Ðài Truyền hình Quốc gia Lào. Anh nói tiếng Việt sõi và nhanh, là một phiên dịch tiếng Lào lý tưởng. Chúng tôi gọi anh là "dượng Coong". Ðể đoàn đại biểu "bên ngoại" hoàn thành tốt đẹp chuyến công tác của mình, dượng Coong chạy lui, chạy tới, chu đáo, nhiệt thành với tất cả mọi người.
Tình cảm đó còn đọng mãi trong tim cặp vợ chồng Lào từng học tập tại Việt Nam. Anh chồng tên là Phị Thun - cựu sinh viên Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, chị vợ là Xéng Xa Vẳn - cựu sinh viên Ðại học Kinh tế quốc dân Hà Nội. Hà Nội là nơi lưu giữ mối tình đầu thiêng liêng của họ. Giờ anh chị có hai con, các cháu đã lớn. Cuộc gặp của chúng tôi với gia đình này như cuộc gặp của những người thân thiết, lâu ngày có dịp bên nhau. Phị Thun và Xéng Xa Vẳn đã nhiều lần trở lại Việt Nam. Về quê Lào nhưng luôn nhớ bạn bè cùng học ngày xưa, đôi khi đến se sắt.
Tình cảm đó được các anh Bua Xỏn, Bun Thăn Tha Xay, Pin Prathana, Phu My, Thoong Văn, Bun Chom và nhiều người khác của Ðài Truyền hình, Ðài Phát thanh quốc gia Lào, Báo Paxaxôn, Báo Viêng Chăn may... Các anh quan tâm, săn sóc, lo lắng đến từng bữa ăn, giấc ngủ, từng chi tiết nhỏ trong chuyến đi của chúng tôi.
Bây giờ, tiếp bước các anh chị Phị Thun, Xéng Xa Vẳn, Coong Khăm... mỗi năm có khoảng 2.500 cán bộ, sinh viên Lào sang học tập, nghiên cứu tại Việt Nam. Tiếp nối, nâng tầm những chương trình, dự án hợp tác, đầu tư của Việt Nam tại Lào là Nhà máy thủy điện Sekaman 3, là hàng vạn hec-ta cây cao-su, cà-phê tươi xanh ở các tỉnh Nam Lào, là đường 18B mở hành lang kinh tế Ðông Tây, là các huyết mạch giao thông gắn kết hai nước: đường số 2, số 6, số 7, số 8, số 9, số 12, 15...
Chúng tôi tắm mình trong vàng hoa đoọc-khun, hưởng trọn cái Tết Bunpimay trên đất bạn Lào trong tình cảm nồng ấm, thân thiết. Hôm tiễn chúng tôi trở về nước, mẹ Khau Bau ở bản Vạt Tày Nọi, Thủ đô Viêng Chăn vừa buộc chỉ cổ tay chúng tôi, vừa chúc phúc:
"Chúc con có sức khỏe phi thường
Ăn ở tốt lành
Ði đường gặp may
Chúc gia đình con và bà con Việt Nam làm ăn giàu có, lúa đầy đồng, của đầy nhà, êm vui, hòa thuận...".
Mẹ chúc nhiều, chúc nhiều, làm sao "dượng Coong" nhớ nổi mà dịch. Tôi cầm tay mẹ: Con không nói được tiếng Lào, nhưng con cũng xin chúc mẹ như thế, hơn thế. Chúc nước Lào của mẹ, người anh em thủy chung, son sắt của Việt Nam ngày càng no ấm, hạnh phúc, phồn vinh. Chúc tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững như Bác Hồ, như đồng chí Kayson Phomvihane lúc sinh thời hằng căn dặn.