Cục Thú y sẽ tiến hành kiểm tra, khảo sát chất lượng nguồn nước ngầm tại một số tỉnh có số lượng gia súc gia cầm chôn lấp cao năm 2004 và 2005 đồng thời hỗ trợ xử lý.
1. Quá trình phân hủy xác động vật sau khi chôn lấp
Sau khi chôn lấp, xác động vật sẽ được phân hủy tương tự quá trình vô cơ hóa chất hữu cơ trong tự nhiên. Tốc độ và thời gian phân hủy tùy thuộc vào các yếu tố môi trường như nhiệt độ, ẩm độ, lượng oxy trong đất, pH và đặc biệt hệ thống sinh vật trong môi trường. Hệ sinh vật tham gia vào quá trình phân hủy xác động vật trong đất rất phong phú bao gồm vi sinh vật, nấm mốc, nấm men, nguyên sinh động vật, côn trùng và các loại động vật sống trong đất. Các chất sát trùng, axit, bazơ mạnh làm cản trở quá trình phân hủy.
Quá trình phân hủy gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn thối rữa: Tùy nhiệt độ môi trường mà sự thối rữa bắt đầu xảy ra sau khi con vật chết từ 2 đến 8 giờ. Vi sinh vật yếm khí trong ống tiêu hóa tăng số lượng để phân hủy chất hữu cơ trong ruột già, dạ dày, ruột non. Sau đó, niêm mạc, cơ của ống tiêu hóa bị chương phồng do áp lực của các chất khí tạo ra trong quá trình phân hủy làm ống tiêu hóa bị vỡ, vi sinh vật từ đây sẽ phát triển nhanh chóng ra khắp xoang bụng, xoang ngực và sau đó tấn công vào cơ, tuỷ xương. Nếu xác chết có nhiều hóa chất, kháng sinh, các chất diệt khuẩn sẽ làm quá trình chậm lại. Nhiệt độ môi trường thấp hơn 40C cũng là yếu tố cản trở sự thối rữa. Sản phẩm của giai đoạn này bao gồm các diamin, các amin, các mảnh peptit, chất khoáng, các chất tạo mùi như sunfuahydro, amonia, mercaptan, sunfit hữu cơ và các vi sinh vật gây bệnh. Trong xác động vật các loại vi trùng như E.coli, Salmonella có thể tồn tại trong thời gian khá dài, đặc biệt những loài có nha bào như B.anthrasis, Clostridium tetani ... có thể sống được nhiều năm trong xác chết và trong đất.
Giai đoạn khoáng hóa: Giai đoạn khoáng hóa xảy ra ngay sau giai đoạn thối rữa. Hệ thống vi sinh vật tham gia vào quá trình biến các chất hữu cơ thành vô cơ mà cây trồng có thể hấp thu được. Sản phẩm có chứa nitơ được biến đổi thành amonia, nitrite và nitrate. Các chất photpho hữu cơ trong tế bào động vật thành các dạng muối sodiumphosphate hoặc potasium phosphate. Các amin có chứa lưu hùynh như Methionin, Systein sẽ trở thành các muối vô cơ sodiumsulphate, potasium sulphate. Quá trình khoáng hóa xảy ra nhanh hay chậm tùy thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ, pH và các yếu tố khác như hệ thống vi sinh vật, thực vật trong đất.
2. Khả năng gây ô nhiễm môi trường của các hố chôn lấp
Biện pháp tiêu hủy gia súc gia cầm mắc bệnh là biện pháp mạnh nhằm tiêu diệt tận gốc sự phát tám mầm bệnh. Với điều kiện thực tế ở Việt Nam, đốt là phương pháp ít được áp dụng do chi phí tiêu hủy, thời gian và các lý do khác.
Chôn lấp là biện pháp thường được sử dụng vì nhanh, ít tốn kém nhưng lại ảnh hưởng đến môi trường. Khả năng gây ô nhiễm môi trường của các hố chôn lấp phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Số lượng gia súc, gia cầm bị chôn lấp/ đơn vị diện tích. Số lượng càng lớn thì khả năng gây ô nhiễm càng cao.
- Điều kiện thổ nhưỡng của khu vực chôn lấp: tính chất đất (đất mùn, đất sét, cát ...), mực nuớc ngầm cao hay thấp.
- Vị trí chôn lấp: gần hay xa nguồn nước, khu vực dân cư, chăn nuôi, bãi chăn thả.
- Hệ sinh vật ( vi sinh, động, thực vật) khu chôn lấp và kỹ thuật chôn lấp.
Ô nhiễm không khí: sự ô nhiễm không khí hầu như chỉ xảy ra trong giai đoạn đầu của quá trình chôn lấp - tức là sau khi chôn 10 ngày đến 1 tháng. Trong giai đoạn này, sự thối rữa xác chết xảy ra trong điều kiện yếm khí hoặc vi hiếu khí tạo ra các sản phẩm có độc tính cao. Khí độc dễ dàng khuyếch tán vào môi trường không khi gây mùi hôi thối, ô nhiễm không khí.
Ô nhiễm đất: trong giai đoạn đầu sự hô hấp của đất khu vực chôn lấp gia tăng cho đến khi tốc độ oxy hóa chất hữu cơ cao nhất, nhưng vì một số lượng lớn chất hữu cơ tích tụ trong đất sẽ tạo ra sự mất cân bằng, làm chậm sự phát triển của cây, làm cản trở sự lưu thông không khí trong đất, làm giảm nhanh chóng tóc độ thấm nước và sự hòa tan khí oxy. Ở những vùng này, quá trình phân hủy yếm khí tạo ra nhiều sản phẩm trung gian có độc tính cao. Lượng oxy có thể bị giảm đến mức rất thấp, vì vậy, chu trình khoáng hóa chất dinh dưỡng đã bị ảnh hưởng. Sự thiếu hụt oxy sẽ khử các sản phẩm của quá trình phân hủy hiếu khí thành CH4, NO3 biến đổi thành khí N2O và N2, muối SO42- thành H2S. Hầu hết những sản phẩm của quá trình phân hủy kỵ khí không được cây trồng hấp thụ và rất độc cho cây.
Trong xác chết có nhiều loại vi trùng, virus và trứng ký sinh trùng gây bệnh, vi trùng đường ruột như E.coli, Salmonella, Shigella, Proteus, Arizona.
Theo nghiên cứu của A.Kigirov 1982, Nanxena 1978 và Bonde 1967 vi trùng gây bệnh Brucella có thể tồn tại 74 - 108 ngày, Salmonella 3-6 tháng, Leptospira 3-5 tháng. Các loại vi trùng có nha bào như Bacillus anthracis tồn tại 10 năm (gần đây có tài liệu công bố vi khuẩn tồn tại được 20 năm), B.tetani tồn tại và còn khả năng gây bệnh 3-4 năm.
Nguyên sinh động vật, côn trùng, giun, dế sống trong đất có thể mang mầm bệnh lên lớp đất bề mặt, sau đó phát tán đi xa. Người, gia súc, gia cầm có thể bị cảm nhiễm do tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh.
Ô nhiễm nước: Theo kết quả điều tra năm 2003 - 2004, cả nước có trên 87% các trại chăn nuôi gia súc, gia cầm sử dụng nước ngầm. Trong đó một tỷ lệ lớn các giếng nước này dùng chung cho người và gia súc vì vậy nếu nguồn nước bị ô nhiễm thì rất nguy hiểm. Các chất hữu cơ, vô cơ, các loại mầm bệnh sẽ theo mạch ngang xâm nhập vào nguồn nước. Người, gia súc, gia cầm có thể bị bệnh do Salmonella, E.coli, Shigella, Proteus, Arizona ...do việc sử dụng nguồn nước chất lượng kém.
Để hạn chế nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do việc chôn lấp gia xác chết cần chú ý:
- Chọn vị trí chôn lấp: cách xa nội thành, nội thị, khu dân cư, xa khu vực khai thác nước ngầm, nước mặt phụ vụ sinh hoạt. Những trang trại có diện tích rộng, số lượng xác chết gia súc gia cầm không quá lớn có thể chôn ngay trong trang trại nhưng phải cách xa khu nhà người ở, khu chuồng nuôi và giếng nước ít nhất 100m.
- Đào hố và chôn lấp: chiều rộng dài của hố chôn tùy thuộc vào số lượng xác chết cần chôn lấp hoặc phương tiện đào hố nhưng độ sâu phải đạt > 2m; đáy hố chôn phủ lớp vật liệu chống thấm để cô lập các chất ô nhiễm, giảm ô nhiễm nguồn nước xung quanh; tránh làm cháy hoặc rách lớp vật liệu chống thấm do dùng dầu hay xăng đốt xác chết trong hố; phun thuốc sát trùng hoặc rải 01 lớp vôi bột đáy hố chôn để giảm sự khuếch tán mầm bệnh; xác chết được đổ vào hố chôn, nén chặt. Xác chết phải cách mặt đất 1 - 1,5m; phun thuốc sát trùng hoặc rải vôi bột phủ lớp trên cùng xác chết; lấp đất và nén thật chặt.
- Trong vòng 1- 3 tuần đầu sau khi chôn lấp, cần thường xuyên kiểm tra hố chôn để phát hiện sớm hiện tượng lún sụt, bốc mùi để xử lý kịp thời. Các trang trại có hố chôn lấp gia súc gia cầm, cần được định kỳ kiểm tra nguồn nước giếng.
| Dịch cúm gia cầm trong năm 2004 xảy ra trên 57 tỉnh, thành phố, gây tổn thất nặng nề. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy hơn 43,9 triệu con, trong đó có 30,4 triệu con gà, 13,5 triệu con thủy cầm 74,89 triệu quả trứng gia cầm và thủy cầm và 25,75 triệu quả trứng chim các loại. Các tỉnh có số gia cầm chết và tiêu hủy nhiều nhất là Long An, Tiền Giang, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Hà Tây. Năm 2005 - 2006, dịch lở mồm long móng (LMLM) xảy ra trên hơn 50 tỉnh, thành phố với số lượng trâu bò bị chết và tiêu hủy 2472 con, 23517 lợn. |