Đại sứ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh.
Đại sứ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh.

Đại hội lần thứ XIV là một cột mốc chiến lược, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho Việt Nam

Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là một cột mốc chiến lược, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho Việt Nam với tầm nhìn dài hạn, hoài bão lớn và ý chí chính trị cao. Thành công của đại hội sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho Việt Nam đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia phát triển và hạnh phúc.

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 19 đến 25/1/2026, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc phỏng vấn Đại sứ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh về những thành tựu của 40 năm Đổi mới và ý nghĩa của Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Phóng viên: Đánh giá lại những thành quả đạt được sau 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới cũng là một trong nội dung quan trọng tại Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy, Đại sứ đánh giá thế nào về những thành tựu của Việt Nam đã đạt được trong 40 năm qua?

Đại sứ Khamphao Ernthavanh: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là cơ hội để đánh giá 40 năm tiến trình Đổi mới (từ năm 1986 đến nay); khẳng định Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực: chính trị-ngoại giao, quốc phòng-an ninh, kinh tế-thương mại, văn hóa-xã hội.

Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith đồng chủ trì Cuộc gặp cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. (Ảnh: TTXVN)

Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith đồng chủ trì Cuộc gặp cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. (Ảnh: TTXVN)

Trong 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã duy trì được sự ổn định chính trị-xã hội – đây là yếu tố quan trọng đảm bảo phát triển bền vững lâu dài. Hệ thống chính trị đã được cải cách và hoàn thiện, ngày càng hiệu quả, năng lực lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý nhà nước ngày càng được nâng cao.

Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ, tăng cường kỷ luật và đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng và các tệ nạn khác. Theo các cuộc khảo sát quốc tế, chỉ số ổn định chính trị và hiệu quả quản lý của Việt Nam liên tục được cải thiện, phản ánh lòng tin cao của xã hội và sự đồng thuận, ủng hộ mạnh mẽ của người dân đối với các chính sách phát triển quốc gia của Đảng và Nhà nước.

Trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống quốc phòng và an ninh vững chắc cho nhân dân, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong bối cảnh biến động khu vực và toàn cầu. Việt Nam cũng là một trong những nước ASEAN tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc với các sĩ quan và đơn vị công binh được triển khai trong nhiều nhiệm vụ, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trật tự và an ninh xã hội về cơ bản được duy trì; các thách thức an ninh phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh và quản lý an ninh mạng được chú trọng hiệu quả hơn.

Kinh tế là lĩnh vực đạt được những kết quả nổi bật trong tiến trình 40 năm Đổi mới của Việt Nam. Khởi điểm từ một nền kinh tế nhỏ, kém phát triển, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, với GDP vượt quá 400 tỷ USD. Đời sống của người dân được cải thiện, với mức thu nhập bình quân đầu người đã tăng từ khoảng 100 USD/năm (năm 1986) lên hơn 4.000 USD/năm. Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6-7%/năm trong nhiều thập kỷ, thuộc hàng cao nhất thế giới. Tổng giá trị xuất nhập khẩu tăng đáng kể, từ vài tỷ USD lên hơn 700 tỷ USD/năm, đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt hàng trăm tỷ USD, với nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn đầu tư vào Việt Nam. Việt Nam đã chuyển đổi thành công sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cùng với đó, công cuộc Đổi mới đã mang lại cho Việt Nam những tiến bộ xã hội sâu rộng và toàn diện. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm đáng kể, từ hơn 50% vào cuối những năm 1980 xuống dưới 5%, được Liên hợp quốc đánh giá là một trong những nỗ lực giảm nghèo thành công nhất thế giới. Chỉ số Phát triển con người (HDI) liên tục tăng, đưa Việt Nam vào nhóm các nước có chỉ số phát triển con người trung bình khá. Giáo dục phổ cập, hệ thống chăm sóc sức khỏe được tăng cường; an sinh xã hội, bình đẳng giới và chăm sóc các nhóm dễ bị tổn thương ngày càng được chú trọng. Những kết quả trên cho thấy, định hướng phát triển lấy người dân làm trung tâm của đất nước được thể hiện rõ nét trong toàn bộ quá trình Đổi mới của Việt Nam.

Ngày 1/12/2025, tại thủ đô Vientiane,Tổng Bí thư Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Ngày 1/12/2025, tại thủ đô Vientiane,Tổng Bí thư Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Trong lĩnh vực ngoại giao, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia và khu vực, trong đó có hơn 30 đối tác chiến lược và toàn diện. Việt Nam đã chủ động và từng bước hội nhập cộng đồng quốc tế, trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO ); tham gia và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Việt Nam hoàn thành xuất sắc nhiều chức năng quốc tế quan trọng, như là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Chủ tịch ASEAN, thể hiện vai trò ngày càng nổi bật trong việc giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu. Nhờ đó, Việt Nam ngày càng được cộng đồng quốc tế công nhận là đối tác đáng tin cậy, thành viên có trách nhiệm và đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Có thể khẳng định, những thành tựu to lớn mà Việt Nam đã đạt được trên mọi lĩnh vực trong 40 năm Đổi mới là minh chứng thể hiện tính đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả thực tiễn của các chính sách cải cách do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Đây là nền tảng vững chắc để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn chiến lược và tham vọng phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Phóng viên: Thực tế cho thấy, kinh tế được đánh giá là lĩnh vực đạt được những thành tựu vượt bậc, đưa Việt Nam “thoát nghèo” trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, là điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Vậy theo Đại sứ, đâu là động lực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển như hiện nay?

Đại sứ Khamphao Ernthavanh: Trước hết, cần phải nhấn mạnh rằng, động lực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển như hiện nay là do Đảng Cộng sản Việt Nam có chính sách cải cách đúng đắn và nhất quán, đặc biệt là chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, ổn định và bền vững.

Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường hướng tới chủ nghĩa xã hội, lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm, đã thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất và phát huy tiềm năng của tất cả các ngành kinh tế. Đặc biệt, Việt Nam đã duy trì được sự ổn định chính trị-xã hội, tạo ra môi trường đầu tư an toàn và đây là yếu tố then chốt đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động.

Như tôi đã nói ở trên, việc Việt Nam chủ động và hội nhập quốc tế sâu rộng đã giúp Việt Nam tiếp cận chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, trở thành một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới, thu hút một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài.

Một thuận lợi nữa khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài là do Việt Nam liên tục cải cách hệ thống thể chế, chuẩn mực hóa và hoàn thiện pháp luật, giảm thủ tục hành chính, tăng cường tính minh bạch và khả năng dự đoán của chính sách. Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các chính sách đặc biệt đã được sửa đổi để công bằng, cởi mở và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Cùng với đó, Việt Nam đang tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, từ giao thông vận tải - logistics đến năng lượng và số hóa, từng bước đáp ứng nhu cầu của các dự án đầu tư quy mô lớn và công nghệ cao.

Với dân số hơn 100 triệu người, cơ cấu dân số lâu đời và lực lượng lao động trẻ, cần cù, có khả năng nhanh chóng thích ứng với khoa học công nghệ, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh rõ rệt về nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực liên tục được nâng cao thông qua cải cách giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới và chuyển đổi số, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài.

Trong những thành tựu chung của lĩnh vực kinh tế, khu vực tư nhân đã trở thành động lực quan trọng của hệ thống kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm và đổi mới sáng tạo. Nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, trở thành đối tác đáng tin cậy cho các công ty quốc tế.

Một thuận lợi với Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là với chính sách đối ngoại độc lập, tự lực, đa phương và đa dạng đã giúp Việt Nam xây dựng mạng lưới đối tác kinh tế rộng lớn, tạo ra lợi ích gắn liền với các nền kinh tế lớn. Ngoại giao kinh tế ngày càng được, hỗ trợ hữu ích cho các doanh nghiệp ở cấp trung ương và địa phương trong việc thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và chuyển giao công nghệ.

Tóm lại, sự kết hợp của các yếu tố trên đã tạo nên động lực mạnh mẽ và bền vững cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong 40 năm qua. Những động lực này không chỉ biến Việt Nam thành điểm đến đầu tư hấp dẫn mà còn tạo nền tảng quan trọng cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn và hợp tác hơn trong tương lai.

Phóng viên: Sau gần 40 năm đổi mới, hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, khá toàn diện. Vậy, Đại sứ đánh giá thế nào về vai trò và vị thế của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và trên trường quốc tế?

Đại sứ Khamphao Ernthavanh: Với những thành tựu toàn diện sau 40 năm cải cách và mở cửa, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị và ngoại giao, Việt Nam nay đã khẳng định vai trò và vị thế ngày càng quan trọng không chỉ ở Đông Nam Á mà còn trên trường quốc tế. Có thể nói, Việt Nam đã chuyển mình từ một quốc gia bị bao vây cấm vận trở thành một đối tác đáng tin cậy, một thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Việt Nam hiện là trụ cột ổn định và đoàn kết ở Đông Nam Á. Trong ASEAN, Việt Nam được xem là một trong những yếu tố đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và đoàn kết nội bộ. Việt Nam liên tục thúc đẩy nguyên tắc đồng thuận, vai trò trung tâm của ASEAN, và nhấn mạnh đối thoại, hợp tác và luật pháp quốc tế. Thông qua sự tham gia tích cực và đảm nhiệm thành công các vai trò quan trọng như Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã góp phần định hình chương trình nghị sự của ASEAN, hướng tới sự thống nhất, thích ứng và tham gia, cũng như đóng vai trò là cầu nối giữa ASEAN và các đối tác chủ chốt trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng.

Trên toàn thế giới, Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới quan hệ ngoại giao rộng khắp với quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước, trong đó có nhiều đối tác chiến lược và toàn diện. Việt Nam không chỉ mở rộng mà còn làm sâu sắc thêm các mối quan hệ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Hai nhiệm kỳ là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và sự tham gia tích cực của Việt Nam vào các hoạt động gìn giữ hòa bình đã chứng minh năng lực, trách nhiệm và uy tín quốc tế ngày càng tăng của Việt Nam.

Một trong những giá trị lớn nhất mà Việt Nam mang đến cho cộng đồng quốc tế là mô hình phát triển kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị và tiến bộ xã hội. Trong khi nhiều quốc gia đang tìm kiếm con đường phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của mình, kinh nghiệm của Việt Nam cho thấy không có mô hình phát triển nào là duy nhất; chìa khóa là chọn con đường phù hợp với lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Sự nhất quán, tự lực và khả năng phục hồi này đã giúp Việt Nam duy trì ổn định lâu dài, từng bước cải thiện đời sống người dân và hội nhập sâu rộng với thế giới.

Đại sứ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh.

Đại sứ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh.

Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận là tiếng nói mang tính xây dựng, trung lập và có trách nhiệm trong các vấn đề khu vực và toàn cầu như hòa bình và an ninh, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước. Việt Nam chủ trương tính khách quan, đứng về lẽ phải, luật pháp quốc tế và lợi ích chung, góp phần thúc đẩy đối thoại, giảm thiểu đối đầu và tăng cường hợp tác trong một thế giới chia rẽ.

Việt Nam là nguồn cảm hứng cho các nước đang phát triển noi theo, từ một quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng với vai trò ngày càng nổi bật trong khu vực và trên thế giới. Sự phát triển của Việt Nam là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là những nước đang tìm kiếm con đường phát triển độc lập và tự chủ trong khi vẫn duy trì được sự hội nhập hiệu quả. Việt Nam đã chứng minh rằng độc lập dân tộc, ổn định chính trị và hội nhập quốc tế không phải là hai khái niệm loại trừ lẫn nhau, mà có thể thúc đẩy và củng cố lẫn nhau bằng các chính sách đúng đắn và tầm nhìn dài hạn.

Có thể khẳng định, vị thế hiện tại của Việt Nam không chỉ được đo bằng các chỉ số kinh tế hay kim ngạch thương mại, mà còn bằng mức độ tin cậy, uy tín và khả năng đóng góp tích cực vào các vấn đề chung trong khu vực và trên thế giới. Với nền tảng được xây dựng trong gần 40 năm chuyển mình, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với sự tự tin, quyết tâm và trách nhiệm, sẵn sàng tiếp tục đóng góp cho hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững ở Đông Nam Á và cộng đồng quốc tế.

Phóng viên: Thưa Đại sứ, những thành tựu và bài học kinh nghiệm của 40 năm Đổi mới của Việt Nam có thể mang lại bài học gì cho các quốc gia đang phát triển, trong đó có Lào?

Đại sứ Khamphao Ernthavanh: Thành công của quá trình Đổi mới của Việt Nam trong 40 năm qua đã mang lại nhiều bài học quý giá cho các nước đang phát triển, trong đó có Lào. Theo tôi, có thể rút ra một số bài học quan trọng sau:

Thứ nhất là bài học về kiên định bảo vệ độc lập và tự chủ cùng với tư duy phát triển đổi mới. Việt Nam đã mạnh dạn cải cách tư duy kinh tế, chuyển mình từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường hướng tới chủ nghĩa xã hội, đồng thời duy trì vai trò lãnh đạo của Đảng và sự ổn định chính trị, xã hội. Đây là kinh nghiệm quan trọng đối với các nước đang phát triển, giúp cải thiện phương pháp đạt được những mục tiêu đó một cách hiệu quả hơn.

Một góc khu đô thị phía tây Hà Nội. (Ảnh ĐĂNG ANH)

Một góc khu đô thị phía tây Hà Nội. (Ảnh ĐĂNG ANH)

Thứ hai là chú trọng phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân, đặt con người làm trung tâm của quá trình phát triển. Việt Nam coi tăng trưởng kinh tế gắn liền với giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và phát triển toàn diện. Cách tiếp cận này đã tạo ra sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội, củng cố niềm tin của người dân vào quá trình cải cách và đặt nền tảng chính trị, xã hội vững chắc cho sự phát triển lâu dài. Đây là kinh nghiệm rất phù hợp và quý giá đối với Lào trong quá trình phát triển quốc gia.

Thứ ba là kết hợp hài hòa giữa ổn định chính trị với mở cửa và hội nhập. Việt Nam đã chứng minh rằng ổn định chính trị không phải là trở ngại cho sự phát triển, mà là điều kiện tiên quyết cho hội nhập thành công. Trên cơ sở ổn định này, Việt Nam đã từng bước mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và tham gia sâu rộng vào các cơ chế khu vực và toàn cầu. Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Lào, bài học này cho thấy hội nhập quốc tế cần phải chủ động và có quy hoạch tổng thể phù hợp với điều kiện và năng lực quốc gia, tránh vội vàng hoặc quá phụ thuộc.

Thứ tư là thúc đẩy vai trò của nhà nước trong phát triển. Việt Nam đã từng bước chuyển đổi vai trò của nhà nước từ "quản lý và can thiệp trực tiếp" sang "nhà nước hướng đến phát triển", tập trung vào xây dựng thể chế, hoàn thiện pháp luật, đầu tư vào cơ sở hạ tầng và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của tất cả các ngành kinh tế. Kinh nghiệm này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển có nguồn lực hạn chế, đòi hỏi nhà nước phải đưa ra hướng dẫn phù hợp, phân bổ nguồn lực hiệu quả và sử dụng nguồn lực trong và ngoài nước một cách hợp lý.

Thứ năm là thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự lực, đa phương và đa dạng. Việt Nam tiếp tục mở rộng hợp tác, tạo ra những lợi ích liên kết với nhiều quốc gia, từ đó tận dụng tối đa các nguồn lực bên ngoài cho sự phát triển trong khi vẫn duy trì chủ quyền và lợi ích quốc gia. Cách tiếp cận này rất có giá trị đối với Lào trong việc cân bằng quan hệ với các đối tác và tận dụng các cơ hội từ hội nhập khu vực và quốc tế.

Sự chuyển mình đổi mới của Việt Nam là một thành công trong phát triển kinh tế và là bài học về quản trị quốc gia độc lập và hiệu quả, xây dựng sự đồng thuận xã hội và hội nhập quốc tế. Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Lào, kinh nghiệm của Việt Nam cho thấy rằng với các chính sách đúng đắn, ý chí chính trị mạnh mẽ và sự ủng hộ của người dân, phát triển bền vững có thể đạt được, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia.

Tại cảng Hải Phòng. (Ảnh: Đăng Anh)

Tại cảng Hải Phòng. (Ảnh: Đăng Anh)

Phóng viên: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 19 đến 25/1/2026. Đây là sự kiện chính trị trọng đại và mang tính lịch sử, định hình đường hướng phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Vậy theo Đại sứ, Đại hội lần này có ý nghĩa thế nào trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045?

Đại sứ Khamphao Ernthavanh: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của Việt Nam sau hơn 80 năm thành lập nước và 40 năm thực hiện đường lối Đổi mới, đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chủ động tham gia các tiến trình khu vực và toàn cầu.

Đại hội XIV không chỉ tổng kết, đánh giá thực chất kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn đề ra những định hướng chiến lược đúng đắn trong thời gian tới, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới nhanh và bền vững hơn.

Cụ thể, Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ định hướng các động lực phát triển mới cho giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo. Để thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045, Việt Nam sẽ trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, Đại hội XIV dự kiến ​​sẽ tiếp tục nhấn mạnh các nhiệm vụ chiến lược: hiện đại hóa và hoàn thiện các thể chế chính trị; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại, toàn diện, gắn liền với chuyển đổi số và tăng trưởng xanh, tạo nền tảng cho Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và từng bước tham gia sâu rộng hơn vào các chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu.

Cùng với đó, Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đoàn kết dân tộc. Bằng cách tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, thúc đẩy xây dựng một Đảng trong sạch và vững mạnh, nâng cao năng lực quản lý và sức mạnh chiến đấu của các tổ chức Đảng. Đồng thời, Đại hội cũng góp phần củng cố sự đoàn kết dân tộc, thúc đẩy sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị-xã hội và tạo sự đồng thuận cao trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển dài hạn.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là một cột mốc chiến lược, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho Việt Nam với tầm nhìn dài hạn, hoài bão lớn và ý chí chính trị cao. Thành công của đại hội sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho Việt Nam đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia phát triển và hạnh phúc, cũng như tiếp tục đóng góp tích cực vào hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Phóng viên: Trên nền tảng mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện và gắn kết chiến lược Lào - Việt Nam, Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ mở ra những không gian hợp tác mới nào cho quan hệ Lào-Việt Nam, thưa Đại sứ?

Đại sứ Khamphao Ernthavanh: Trên nền tảng mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện và gắn kết chiến lược Lào - Việt Nam, Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng, mở ra những định hướng mới, sâu sắc và thực chất hơn cho sự hợp tác giữa hai nước trong giai đoạn phát triển mới.

Trước hết, Đại hội XIV sẽ tiếp tục khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của mối quan hệ Lào-Việt Nam trong tổng thể đường lối đối ngoại của Việt Nam, coi đây là mối quan hệ chiến lược lâu dài. Trên cơ sở đó, hai bên sẽ không ngừng củng cố tin cậy chính trị cao hơn, thúc đẩy trao đổi đoàn, nhất là cấp cao, đồng thời tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Đảng, Nhà nước, Quốc hội cũng như các cơ quan Trung ương và địa phương của hai nước.

Bên cạnh hợp tác về chính trị - ngoại giao, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ mở ra không gian phát triển mới cho hợp tác kinh tế theo hướng kết nối bền vững. Đây sẽ là động lực quan trọng để hai nước đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực then chốt, như: Hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, thương mại biên giới, nông nghiệp và du lịch, qua đó phát huy tốt hơn tiềm năng, thế mạnh của mỗi bên. Đặc biệt, hai nước sẽ tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực mới, như: Chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Những lĩnh vực này không chỉ giúp Lào khai thác hiệu quả hơn lợi thế về vị trí địa kinh tế, mà còn tạo điều kiện để Việt Nam mở rộng không gian phát triển và tăng cường kết nối trong khu vực.

Đại sứ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh trao học bổng chương trình học tiếng Lào cho sinh viên Việt Nam. (Ảnh: Đại sứ quán Lào tại Việt Nam)

Đại sứ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh trao học bổng chương trình học tiếng Lào cho sinh viên Việt Nam. (Ảnh: Đại sứ quán Lào tại Việt Nam)

Cùng với đó, hợp tác quốc phòng-an ninh tiếp tục được coi là một trong những trụ cột quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội ở mỗi nước. Với tinh thần đó, hợp tác quốc phòng-an ninh Lào-Việt Nam sẽ tiếp tục được mở rộng theo hướng tin cậy và hiệu quả, nhất là trong bảo vệ biên giới, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Một nội dung hợp tác khác có ý nghĩa chiến lược là giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Trọng tâm hợp tác sẽ hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Lào, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia, thông qua các hình thức: Cấp học bổng, triển khai các chương trình đào tạo dài hạn, ngắn hạn cũng như tăng cường trao đổi học thuật giữa các cơ sở đào tạo của hai nước.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tạo thêm động lực để hai nước đổi mới, đa dạng hóa và làm sâu sắc hơn hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân, nhất là giao lưu thanh niên, kết nghĩa địa phương và hợp tác thông tin-truyền thông. Những hoạt động này không chỉ góp phần thắt chặt tình đoàn kết đặc biệt giữa nhân dân hai nước, mà còn nâng cao hơn nữa vai trò và vị thế của Lào và Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Đại sứ!

Có thể bạn quan tâm