Sáng 21/4, Quốc hội tiếp tục phiên thảo luận ở hội trường về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026.
Phần lớn tín dụng chảy vào bất động sản đầu cơ
Nêu ý kiến tại phiên họp, đại biểu Quốc hội Lê Hoàng Anh (Đoàn Gia Lai) đề cập 2 vấn đề là tín dụng chảy sai chỗ kéo dài và hiệu quả đầu tư thấp.
Theo đại biểu, đầu tư tư nhân ở Việt Nam phụ thuộc khoảng 80% vào tín dụng ngân hàng, trong khi đó lãi suất cho vay cao, chỉ ngành lợi nhuận cao hoặc đầu cơ tài sản mới chịu được, đem đến nhiều hệ lụy.
“Phần lớn tín dụng chảy vào bất động sản đầu cơ, giá nhà tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đạt 25 đến 30 lần thu nhập bình quân năm”, đại biểu Lê Hoàng Anh nói và cho biết, theo thông lệ lành mạnh quốc tế chỉ 4 đến 6 lần.
Với giá nhà như vậy, ông nhận định, “người trẻ 30 năm lao động cật lực không mua nổi một căn nhà bằng người thừa kế một mảnh đất”. Điều này dẫn tới niềm tin vào hệ thống công bằng bắt đầu lung lay. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà là vấn đề chính trị-xã hội dài hạn.
Từ số liệu về dư nợ tín dụng của toàn bộ 35 ngân hàng thương mại nước ta do Thư viện Quốc hội cung cấp, ông Lê Hoàng Anh “đặc biệt lo lắng”, bởi tín dụng bất động sản tăng 132% trong 4 năm, từ 1.955 nghìn tỷ đồng năm 2021 lên 4.541 nghìn tỷ đồng năm 2025, gấp 2,4 lần tốc độ tăng công nghiệp.
Tín dụng bất động sản năm 2025 lớn gấp 1,81 lần tín dụng công nghiệp và gấp 5,3 lần tín dụng nông-lâm-thủy sản, trong khi bất động sản không tạo ra giá trị xuất khẩu, không tạo việc làm bền vững. Năm 2025, chỉ riêng bất động sản và xây dựng chiếm 27,4% tổng tín dụng toàn hệ thống.
Điều đáng lo ngại nữa, theo đại biểu đoàn Gia Lai, là riêng năm 2024-2025, tín dụng bất động sản tăng đột biến 37,6% trong khi tín dụng công nghiệp chỉ tăng 9,4%. “Như vậy Việt Nam chúng ta đang chạy marathon với đôi chân bị trói, vốn bị giam trong tài sản đầu cơ thay vì chảy vào nơi tạo ra giá trị thực”, ông Lê Hoàng Anh nhấn mạnh.
Từ phân tích nêu trên, ông đề nghị Chính phủ kiểm soát tín dụng bất động sản đầu cơ bằng công cụ thị trường, tránh dùng mệnh lệnh hành chính, dự trữ bắt buộc phân biệt theo lĩnh vực để tín dụng chuyển sang sản xuất và công nghệ. Đồng thời, cần thực hiện ngay việc thu phí sử dụng đất theo hiệu quả kinh tế và thời gian đưa đất vào sử dụng.
Trước mắt, đại biểu đề nghị Quốc hội đưa vào Luật Thủ đô thông qua kỳ này thí điểm tại Hà Nội, cuối năm đưa vào Luật Đô thị đặc biệt thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh quy định: đất dự án chậm triển khai quá 24 tháng phải chịu phí tăng dần theo thời gian; nhà đất thứ hai trở lên không đưa vào sử dụng hoặc cho thuê phải áp dụng mức phí lũy tiến phù hợp. Toàn bộ nguồn thu này đưa vào quỹ nhà ở xã hội, tái thiết chung cư cũ và hạ tầng đô thị thiết yếu.
“Đây là giải pháp đánh đúng vào động cơ đầu cơ, buộc đất quay về giá trị sử dụng thật, tạo không gian cho tăng trưởng thực tế”, ông Lê Hoàng Anh nêu rõ.
Thay đổi cơ chế phân bổ vốn, buộc mỗi đồng đầu tư phải chứng minh giá trị của nó
Vấn đề thứ hai được đại biểu đoàn Gia Lai đề cập là hệ số hiệu quả đầu tư (ICOR). Theo ông, có 3 nguyên nhân gốc rễ dẫn đến ICOR cao (nghĩa là hiệu quả đầu tư thấp).
Nguyên nhân đầu tiên là ngân sách dàn trải, nhiều dự án khánh thành kỹ thuật nhưng chưa đưa vào sử dụng, chưa phát huy hiệu quả. “Dự án kéo dài đồng nghĩa chi phí tăng, ICOR tăng”, ông Lê Hoàng Anh nói.
Các nguyên nhân nữa là chuẩn bị đầu tư yếu, đánh giá hiệu quả trước và sau dự án xem nhẹ, chi phí phi chính thức cao; vốn ứ đọng, phân bổ không kịp thời. Đại biểu dẫn thí dụ về dự án quan trọng quốc gia là cao tốc Pleiku-Quy Nhơn, Quốc hội đã quyết định, chủ đầu tư đã thi công gần 5 tháng, đã kiến nghị nhiều lần bố trí 9.100 tỷ đồng năm 2026 nhưng đến nay vẫn chưa được giao vốn.
“ICOR cao không phải vì thiếu vốn mà vì thừa dự án, thiếu kỷ luật, thiếu trách nhiệm giải trình, bỏ thêm tiền vào hệ thống quản trị kém chỉ làm ICOR tăng thêm”, đại biểu chỉ rõ. Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị Chính phủ cắt giảm ít nhất 30% số dự án phải đi kèm nguyên tắc, cắt đúng dự án kém hiệu quả, giữ lại dự án lan tỏa cao.
Đồng thời, sớm ban hành hướng dẫn hạch toán hiệu quả kinh tế-xã hội theo yêu cầu tại Kết luận 18 của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV. Hạch toán phải phù hợp với bản chất từng loại dự án, không thể dùng một bộ tiêu chí cho mọi dự án, nếu không đây chính lại là nút thắt mới.
Tuy nhiên, theo đại biểu, trọng tâm không phải chỉ là báo cáo trước khi quyết định mà là sau 3 năm hoàn thành bắt buộc phải đánh giá kết quả thực hiện so với cam kết. Kết quả này phải công khai, ràng buộc trách nhiệm, cam kết đầu ra phải là nghĩa vụ pháp lý như cam kết tài chính trong hợp đồng vay vốn.
Ngoài ra, đại biểu đề nghị dùng chuyển đổi số quản trị đầu tư công theo thời gian thực; thiết lập bảng điều khiển số theo dõi tiến độ, giải ngân, cảnh báo vượt dự toán, trách nhiệm từng khâu liên thông với chủ đầu tư, Kho bạc và Kiểm toán Nhà nước. “Muốn hạ ICOR thực chất, trước hết phải số hóa toàn bộ vòng đời đồng vốn đầu tư công”, đại biểu Lê Hoàng Anh nhấn mạnh.
Nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng hai con số là khả thi, song đại biểu đoàn Gia Lai cho rằng mục tiêu này chỉ đạt được khi “dũng cảm cải cách đúng chỗ, không phải bơm thêm tiền vào hệ thống cũ, không phải ban hành thêm văn bản, mà phải thay đổi cơ chế phân bổ vốn, buộc mỗi đồng đầu tư phải chứng minh giá trị của nó”.
Đẩy mạnh đa dạng hóa các quỹ đầu tư, khuyến khích đầu tư vào thị trường trái phiếu
Cũng quan tâm đến hệ số ICOR, đại biểu Nguyễn Hải Nam (Đoàn TP Huế) nêu rõ, với mục tiêu hạ ICOR về mức 4-4,5 thì cần vốn đầu tư khoảng 40% GDP, tương đương hơn 400 tỷ USD.
Theo đại biểu, vốn đầu tư cho nền kinh tế được dẫn qua hai kênh là tín dụng ngân hàng và thị trường vốn, bao gồm trái phiếu và cổ phiếu. Quy mô tín dụng ngân hàng hiện đạt khoảng 145% GDP, cao hơn nhiều so với một số nước trong khu vực, tạo áp lực lớn cũng như rủi ro tiềm tàng về nợ xấu hay hệ số an toàn vốn (CAR).
Do vậy, đại biểu Nguyễn Hải Nam cho rằng, cần phát triển đồng bộ kênh dẫn vốn thứ hai là thị trường vốn, bao gồm trái phiếu và cổ phiếu. Để phát triển thị trường trái phiếu đáp ứng nhu cầu đặt ra, đại biểu đề xuất 5 nhóm giải pháp.
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý Luật Đầu tư, Luật Bảo hiểm, Luật Tổ chức tín dụng, đặc biệt là các nghị định về trái phiếu, không quản lý quá chặt hay quá lỏng,để thị trường trái phiếu đáp ứng là kênh dẫn vốn cần thiết cho nền kinh tế, trong bối cảnh các doanh nghiệp đang rất cần vốn cho phát triển.
Thứ hai, nâng cao công khai, minh bạch trên thị trường trái phiếu, trong đó khuyến khích thực hiện xếp hạng tín nhiệm trái phiếu để hỗ trợ nhà đầu tư đánh giá được rủi ro trong hoạt động đầu tư của mình.
Thứ ba, phát triển hệ thống nhà đầu tư và các trung gian tài chính đầu tư vào thị trường trái phiếu, ưu tiên các nhà đầu tư tổ chức trái phiếu như quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện..., giảm sự phụ thuộc vào nhà đầu tư nhỏ lẻ; phát triển hệ thống công ty quản lý quỹ đặc biệt về trái phiếu, mạnh dạn tái cấu trúc các công ty quản lý quỹ hoạt động chưa hiệu quả.
Đại biểu đề xuất thí điểm thành lập các quỹ đầu tư quốc gia, tương tự quỹ CIC của Trung Quốc hay GIC của Singapore, để chủ động đầu tư vào các ngành, nghề quan trọng như hạ tầng, công nghệ cao, AI, chip bán dẫn, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo.
Giải pháp nữa được đại biểu Nguyễn Hải Nam đề cập là thúc đẩy các loại hình trái phiếu mới, như trái phiếu xanh đầu tư vào các hạ tầng xanh, khu đô thị xanh theo định hướng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; khuyến khích phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để tăng cường đầu tư vào phát triển hạ tầng cơ sở.
Cùng với đó, vận hành hiệu quả thị trường giao dịch trái phiếu thứ cấp, nâng cao thanh khoản cho thị trường này để hỗ trợ cho thị trường trái phiếu sơ cấp.
Nhấn mạnh kênh huy động vốn qua thị trường trái phiếu là một mảnh ghép rất quý trong bức tranh tổng thể của thị trường tài chính, đại biểu đoàn TP Huế đề nghị bổ sung vào Nghị quyết của Quốc hội về kinh tế-xã hội nội dung đẩy mạnh đa dạng hóa các quỹ đầu tư, khuyến khích đầu tư vào thị trường trái phiếu phục vụ kinh tế phát triển tốc độ cao.
Phát biểu tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn nêu rõ mục tiêu đưa hệ số ICOR về mức 4-4,5 từ khoảng 4,7-6 hiện nay, tuy nhiên thừa nhận kênh huy động vốn cho nền kinh tế hiện còn phụ thuộc nhiều vào thị trường tiền tệ (vốn ngắn hạn), trong khi vốn dài hạn phải dựa vào thị trường vốn, gồm thị trường trái phiếu và cổ phiếu.
Để phát triển thị trường vốn, Bộ trưởng Tài chính cho rằng cần cải cách đồng bộ từ thể chế, hạ tầng đến thành viên thị trường. Đặc biệt là phát triển các định chế đầu tư chuyên nghiệp, giúp nhà đầu tư nhỏ lẻ có nơi gửi vốn an toàn. "Điều quan trọng nhất của nhà đầu tư là hiệu quả, kiểm soát dòng tiền và khả năng thu hồi vốn. Các tổ chức trung gian tài chính, phối hợp với cơ quan giám sát, sẽ bảo đảm điều này, giúp thị trường minh bạch và an toàn hơn", Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn khẳng định.