Chuyện người trồng rừng ở bản Hà

Nhà ông Ðinh Xuân Niệm ở bản Hà, xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) nằm ở cuối bản, cuối đường. Sau cơn bão số 10 kéo dài hơn nửa ngày, bản Hà hiện vẫn bề bộn như một vùng chiến địa. Khách và chủ vừa gặp nhau đã kéo lên rừng. Giữa xào xạc rừng cây bản địa, ông kể về hành trình 20 năm trồng rừng kiểu "chẳng giống ai" ở chốn thâm sơn này.

Ông Ðinh Xuân Niệm bên rừng lim gần 30 năm tuổi của mình.
Ông Ðinh Xuân Niệm bên rừng lim gần 30 năm tuổi của mình.

Ở tuổi gần 80, ông Ðinh Xuân Niệm vẫn tráng kiện, dẻo dai và vui tính. Ðiều lạ là trên đường vào bản Hà, nhiều cây keo lai của khu rừng trồng gãy đổ ngổn ngang, nhiều ngôi nhà vừa mới lợp lại mái do gió bão phá hỏng nhưng ngôi nhà gỗ ba gian của ông Niệm không hề hấn gì, rừng cây vươn cao, tỏa bóng như chưa hề có trận cuồng phong vừa qua. Ông Niệm bảo: "Nhờ rừng cả đó chú, mưa gió nhiều đến mấy cũng không can chi. Rừng ngậm nước rồi nhả ra từ từ, gió cũng đã có rừng che chắn, rứa mới yên bình trong bão lũ chớ".

Thời trai trẻ, ông Niệm tham gia chiến đấu giải phóng Quảng Trị rồi bị thương và được đưa về tuyến sau. Sau giải phóng, ông rời quân ngũ về quê. Trong cuộc mưu sinh, ông và bạn bè cùng trang lứa vác rìu lên rừng đẵn gỗ về bán lấy tiền mua gạo. Cuộc đời gắn với rừng không làm cho gia đình ông và người dân ở xã vùng cao Thanh Hóa khá lên là mấy. Trước, rừng ở gần nhà, rồi đi một buổi và sau này là hai ngày mới đẵn được khúc gỗ lén lút kéo về để có nguồn sống. Ông Niệm hiểu ra, kiểu này thì không còn rừng mà khai thác. Trong các chuyến đi rừng ấy, ông thấy có rất nhiều cây lim, dó, vàng tâm… nhỏ sống chen chúc dưới gốc cây già bị đốn tự khi nào. Ðêm trằn trọc ông nghĩ sao mình không mang các cây nhỏ đó về trồng ở mé đồi sau nhà. Ðầu năm 1997, ông Niệm từ bỏ công việc khai thác gỗ và nhận gần 5 ha đất gần Lèn Hà, nơi từng là hang làm việc của bộ đội thông tin Trường Sơn trong những năm chống Mỹ, cứu nước, để trồng rừng. Ông cũng dời nhà ở trung tâm xã vào bản Hà để thuận cho việc trồng rừng. Nói là làm trang trại nhưng ông Niệm chỉ có sức người, vốn liếng và kinh nghiệm trồng trọt đều thiếu. Chưa kể, với cách làm không giống ai là không trồng keo, tràm mà trồng các loại cây gỗ rừng bản địa, trong đó có nhiều loài gỗ quý như sưa, lim, vàng tâm, huỵnh, trầm dó ít ai tin ông Niệm sẽ thành công. Có ngày chưa phát quang được miếng đất nào, vợ chồng ông đã tiền hết, gạo vơi. Có ngày, phải trộn cả rau má vào nấu cháo để có sức phát rừng…

Tạo trầm cho cây dó.

Ngày đó, chưa có ai ươm được giống cây rừng bản địa nên khai hoang được miếng đất nào, ông Niệm lại luồn rừng tìm các loại cây con thân gỗ đưa về trồng; giữa các rãnh, vợ ông trồng thêm các loại cây ngắn ngày như sắn, khoai môn, đậu để có cái ăn trước mắt. Ngày lại ngày, ông Niệm dành hết sức lực cho khu rừng của mình. Nắng như đổ lửa, ông xuống suối oằn lưng gánh từng thùng nước để tưới cây, mưa ông chống buộc để cây nhỏ bớt gãy đổ. Thế nhưng ông chưa bao giờ nản lòng. Nhìn cây đâm chồi nảy lộc, ông như được tiếp thêm động lực biến đồi hoang do bom đạn thành rừng cây quý chở che cho bản Hà.

Hỏi ông sao không trồng rừng keo, tràm để nhanh thu hoạch như nhiều người thường làm mà trồng gỗ lim, huỵnh vài chục năm mới thu hoạch được, ông trả lời không một phút đắn đo: "Tui nghĩ rồi, nếu trồng keo, tràm thì chỉ 4 đến 5 năm chặt bán được nhưng như vậy đất lại dễ bị rửa trôi, bạc màu và cây hay gãy đổ khi có mưa bão. Trồng cây bản địa thì lâu thu hoạch nhưng tui muốn bảo tồn một số loài cây gỗ quý của rừng mà mình đã từng khai thác trái phép, giữ lại một mảng thiên nhiên thật hoang sơ như nó vốn có cho con cháu sau này". Thế nguồn thu để nuôi sống rừng trồng cây bản địa? - tôi hỏi. "Ở rừng, việc này không khó, chỉ có điều chưa giàu thôi. Dưới cây rừng trồng cây ngắn ngày, nuôi gia súc, gia cầm thì cũng phục vụ đủ cuộc sống gia đình mình mà"- ông Niệm chia sẻ.

Dưới tán rừng lim, nắng thu xiên nhẹ qua kẽ lá. Tiếng chim gù từ đâu vọng tới như phá vỡ không gian tĩnh lặng nơi chốn thâm sơn. Ông Ðinh Xuân Niệm xỏ đôi ủng, cầm rựa thoăn thoắt dẫn chúng tôi thăm rừng. Ngược lên mé đồi phía sau nhà một lúc thì chúng tôi lọt hẳn vào khu rừng rậm rạp cây cối. Các loại dây leo như giăng mắc. Vừa trò chuyện, ông Niệm vừa dùng rựa sẻ đường cho chúng tôi đi. "Bên cụm có gần chục cây thẳng, thân có nhiều lỗ đục đó là cây dó đang thời kỳ lấy trầm. Vạt rừng phía trước và bên phải là cây lim. Còn đi ngoặt sang bên trái là rừng cây vàng tâm"- ông Niệm giới thiệu. Chúng tôi cảm giác như đi vào một vùng rừng tự nhiên nào đó với hàng trăm cây rừng thẳng tắp cao hàng chục mét, xanh ngút ngát tầm mắt. Thi thoảng, có vài cây đường kính khoảng 30 cm đổ rạp mà theo ông Niệm đó là do gió bão số 10 quật gãy. "Tui ở đây đã lâu nhưng chưa khi mô thấy bão lớn và lâu như rứa. Gió quất vào dãy núi đá rồi quật trở lại, đến cây lim, sến còn gãy, nói chi các loại cây khác. Rừng của tui bị gãy ít thôi"- người chủ rừng cao niên giải thích.

Phát quang cây dại, ông đưa chúng tôi đến bên gốc cây lim lớn. Cây này là một trong nhóm những cây đầu tiên ông đưa về, nay gần 30 tuổi. Cây cao khoảng 30 m, gốc lớn bằng vòng tay ôm của người lớn, có thể khai thác được. Ông Niệm cho biết, vừa rồi có người đến trả mua cây gỗ gần 100 triệu đồng nhưng ông không bán, để cho cây già thêm, giá trị càng cao. Quay trở lại vạt rừng dó, ông Niệm dừng lại đến bên một cây lớn, thân cây bị đục lỗ chỗ tựa như vết thương vừa lành da. Ông nói, đó là ông đục để tạo trầm cho cây. Khi lái trầm vô, họ đánh giá cây và trả tiền mua luôn cây đó. Cách đây mấy năm, ông bán lô cây dó đầu tiên thu được hơn 600 triệu đồng. Bây giờ, giá trầm đang xuống, ông chưa có ý định bán cây dó trầm. Bất chợt, trong lùm cây phía trước phát ra tiếng "quác" và một chú gà rừng phóng ra rồi mất hút sau mấy cây đùng đình. "Gà rừng gần đây về nhiều lắm, lại còn có sóc về ăn quả đùng đình nữa"- ông Niệm chia sẻ.

Khu rừng rộng hơn 5 ha của ông Niệm hiện có hơn 2.000 cây lim, 500 cây sưa, 500 cây vàng tâm và 5.000 cây trầm dó cùng nhiều cây gỗ bản địa quý hiếm khác. Riêng gỗ lim, hiện ông Niệm là người duy nhất ở Quảng Bình sở hữu một rừng lim lớn đến vậy. Những cây lim được ông Niệm lượm nhặt từ rừng đem về trồng, chăm chút hàng chục năm nay bây giờ đã cao hàng chục mét, đường kính 50 cm. Nhiều cây trong số đó nếu khai thác đã có thể cho hơn 5 m3 gỗ/cây. Ba năm nay, gia đình ông đã có thêm nguồn thu từ việc thu sản phẩm phụ của khu rừng và những loài cây ăn quả trong vườn. Trong đó, nấm lim- sản phẩm dược liệu quý hiếm, mang lại hàng chục triệu đồng mỗi năm.

Gần hai giờ đồng hồ luồn rừng và nghe người chủ rừng đôn hậu Ðinh Xuân Niệm kể những câu chuyện ân tình, ân nghĩa với rừng, chúng tôi càng hiểu thêm về ý nghĩa của nghề trồng rừng. Vâng, rừng không bao giờ phụ công người. Trở về ngôi nhà nhỏ ấm cúng của vợ chồng người cựu chiến binh Ðinh Xuân Niệm, chúng tôi được biết thêm, ông bà có năm người con đều đã có cuộc sống riêng ổn định. Ở vào tuổi gần 80, có trong tay khu rừng trị giá cả chục tỷ đồng song vợ chồng ông vẫn chân chất và yêu rừng đến đam mê. Ông cho biết, không ngày nào ông không vào rừng, vào để được ngửi hương vị và nghe tiếng muông thú của rừng, như là cách dưỡng già vậy. Ông nói, vợ chồng ông sẽ tiếp tục trồng cây và khi không còn sức đi rừng nữa thì trao lại cho con cháu, nhưng người nhận sẽ phải tuân theo quy định về cách khai thác, trồng xen thế nào để rừng phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, môi sinh cho cộng đồng.

Không chỉ là điển hình trong việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng của tỉnh Quảng Bình mà hiện nay, câu chuyện trồng rừng của ông Niệm đang là vấn đề thời sự khi địa phương này vừa bị thiệt hại nặng nề sau bão số 10. Trong khi hàng chục nghìn héc-ta rừng trồng bằng các giống keo, tràm đều bị gãy đổ thì rừng được trồng bằng giống cây bản địa như của ông Niệm và một số hộ khác đều đứng vững, thiệt hại không đáng kể. Bí thư Huyện ủy Tuyên Hóa Hoàng Minh Ðề chia sẻ, qua mô hình trồng rừng của ông Ðinh Xuân Niệm và một số cá nhân khác trên địa bàn, một lần nữa khẳng định chọn trồng rừng bằng các giống cây rừng bản địa là một hướng đi đúng, thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay. Tới đây, huyện Tuyên Hóa sẽ có điều chỉnh trong chính sách trồng rừng, khuyến khích người dân chọn những giống cây rừng bản địa để trồng rừng phát triển kinh tế, tránh được rủi ro, thiệt hại do bão gây ra. Dưới góc nhìn của người trong cuộc, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Bình Phan Văn Khoa cho rằng, rừng trồng nguyên liệu tuy mang lại hiệu quả do thời gian thu hoạch ngắn nhưng gặp nhiều rủi ro, thiệt hại khi gặp bão lớn. Trong khi trồng rừng gỗ lớn bằng các loại cây bản địa tuy thời gian dài nhưng hiệu quả kinh tế gấp hàng chục lần, ít bị thiệt hại do gió bão. Chưa kể, trồng rừng kiểu này, việc khai thác có chọn lọc sẽ giúp giữ được nguồn nước, ngăn xói mòn vào mùa mưa, góp phần giữ gìn môi trường sống và cảnh quan.

Có thể bạn quan tâm