Tranh Đông Hồ đâu chỉ có gà, lợn, chuột...
Hai năm dạy học ở Tuyên Quang sau khi ra trường, Khoa về Hà Nội, đi khắc, in tranh thuê, học thêm đồ họa vi tính (đến giờ anh vẫn đi dạy thêm môn này để kiếm sống). Một buổi, uống rượu với một họa sĩ, Khoa than thở rằng chưa tìm được gì để lập nghiệp. Ông ấy cười: Cả cái kho đại nhà mày, không tự mở lấy mà dùng, còn đi tìm đâu?
Cụ Nguyễn Đăng Khiêm-nghệ nhân Đông Hồ nổi tiếng công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam từ những ngày đầu (mất năm 2002)-có hai con trai là bố Khoa và chú ruột là họa sĩ Nguyễn Đăng Giáp. Nhưng chỉ có ông Giáp theo nghề tranh. Cả gia đình trước vẫn ở trong làng Yên Phụ, nơi có chừng 30 nóc nhà của người làng Đông Hồ chạy giặc ra đây từ những năm 50.
Hồi đó, chú Giáp chuyển ra riêng, để lại nhà Khoa một đống gỗ thị chuyên dùng khắc ván in tranh. Anh không hiểu chú để lại làm gì, mãi sau mới biết ông chú mong thằng cháu ham chơi khi nào "ngộ" ra, thì sẵn đục, sẵn gỗ đấy mà "nối chí cha ông". Vì nghề tranh ở làng cũ mai một đã lâu, hiện nay chỉ có ba gia đình nghệ nhân là ông Chế (cùng họ Nguyễn Đăng), ông Sam, và ông Tấn còn giữ được một số ván và vẫn in tranh. Ở Hà Nội, chỉ có độc gia đình Khoa làm tranh Đông Hồ.
Khoa "ngộ" ra thật, đêm đến, lần giở những cuộn tranh của ông nội, của em ông nội, của chú ra xem mà mê. Lúc đó Khoa mới thấy tranh Đông Hồ đâu chỉ có tranh gà, lợn, chuột đồng tử ôm cóc, ôm tôm, tố nữ... như người ta vẫn nghĩ. Mà đó là cả một thế giới hình ảnh cũng như tinh thần, huyền thoại của đời xưa ngả bóng vào trong mỹ thuật.
Đến thập kỷ 70-80, những hình ảnh của hai cuộc kháng chiến vẫn hiện hình trong những tranh khắc gỗ của cụ Khiêm và cụ Sần. Ai chưa tin Khoa sẵn lòng mở cho họ xem bộ tranh Sơn Tinh - Thủy Tinh, Quan âm Thị Kính... của hai cụ.
Khi chỉ những người biết chữ Hán mới đọc được Tây du ký , thì tranh cổ Đông Hồ đã có cả bộ tranh ông vua khỉ Tôn Ngộ Không rồi. Ai đã được xem tranh Đông Hồ vẽ người phương Tây râu xồm đầu thế kỷ, đi ô-tô, đi xe đạp buông tay, đánh ten-nít, nhảy đầm...?
Người ta chỉ được xem cảnh đào kênh Bắc Hưng Hải qua phim tư liệu, chứ mấy ai đã nhìn tranh Đông Hồ “Kiến thiết quốc gia” vẽ cảnh bà con đi làm thủy lợi?
Mọi người nhớ cảnh máy bay Mỹ cháy, nhưng hiếm ai biết có tranh khắc “Bắn cháy máy bay Mỹ” của cụ Sần, hoặc cảnh anh hùng Nguyễn Văn Trỗi bất khuất trên tranh Đông Hồ của cụ Khiêm?
Khôi phục từ cái hồn
| |
Tính ra trong kho nhà Khoa còn giữ được hơn trăm mẫu tranh khắc từ đầu thế kỷ. Tranh sáng tác trong kháng chiến vài chục mẫu. Tranh bộ, (như Sơn Tinh - Thủy Tinh ) mỗi bộ có từ bốn đến sáu, hoặc 10 bức, cũng vài chục bộ.
Còn giữ được nhiều vậy là do cố gắng hết sức của ông và chú Khoa. Nhưng cũng chỉ còn tranh mẫu mà ván đã mất. Gần như không ai biết đến kho tàng tranh Đông Hồ này. Mê quá, Khoa sinh "tham", nghĩ rằng trước hết cứ khắc và in lại hết số tranh này để khôi phục tầm vóc giá trị của một dòng tranh. Sau đó mới tính đến chuyện sáng tác tiếp. Mới đầu anh nghĩ việc này chắc chỉ mất hai năm...
Nhưng hai năm đã qua, từ khi quyết chí phục dựng lại nghề nhà Khoa mới chỉ khắc lại được trên năm chục ván nét. Trong khi đó mỗi bức tranh cần ba bốn ván màu nữa mới có thể in ra tranh được. Hơn 50 ván nét đó cần thêm 200 ván màu nữa.
Bởi công việc phục dựng này đâu có đơn giản. Khoa phải học tất cả từ đầu, qua ông chú, ngay cả từ những việc rất vặt. Từ đếm giấy dó, không đếm từng tờ, mà đếm từng tay giấy, mỗi tay giấy là 20 tờ, năm tay là một trăm tờ, đếm cho chuẩn. Rồi quét điệp, mài dao, phục chế tranh giấy. Rồi nguyên tắc can tranh lên mặt ván phải can bằng bút lông, không được can bằng chì. Tuy khó hơn nhưng có nét thanh đậm, có tình cảm, dù sai cũng là của mình. Phải thế khắc mới giỏi được.
Khi khắc, tranh Đông Hồ có lớp lang trong ngoài, phải hiểu để đi dao thế nào cho tranh toát ra "mùi" Đông Hồ. Có việc khó quá, Khoa không làm. Ông chú vốn bản tính điềm đạm, lại có sự nhẫn nại lừ "thuở vẽ thỏ, cắt mèo ở xưởng phim hoạt hình" bèn tự tay làm lấy. Ông thầm vui có người nối nghiệp, nên cũng không mắng cháu một câu.
Nhưng sau đó, ngồi uống bia, chú bảo Khoa: "Tao chỉ bảo mày nguyên tắc, còn hàng ngàn cái không nguyên tắc nào cả trong nghề, thì ai bảo được. Phải làm, không sợ, không ngại, không làm tắt, hỏng mới biết hay. Các cụ ngày xưa cũng vậy, làm từ nhỏ và làm từ việc nhỏ". Khoa cúi đầu không nói, mới hiểu ra rằng nếu muốn "ngấu" tinh thần của người xưa, thì mọi thứ, mọi công đoạn phải ngấm vào máu dần. Thảo nào có lần nôn nóng Khoa đã thử thuê thợ, thợ là thợ khắc gỗ khá kỳ cựu ở Bắc Ninh, nhưng họ khắc vẫn không ra.
Quyết dựng lại kho tàng hóm hỉnh của một dân tộc biết cười
Mà cái hồn tranh Đông Hồ là gì, là cái thô nháp nhưng anh minh và ngộ nghĩnh của nét đa hướng. Nét nhộn nhạo quẫy cựa trong bố cục chật những tổ hợp hình mập mạp. Là cái tươi rói, sáng bừng của chàm, son, hòe, gỉ đồng... trên giấy điệp óng ánh.
Chưa hết, mỗi bức tranh là cả một câu chuyện đậm màu dân gian. Dù là tranh sinh hoạt chúc tụng, trang trí, hay tranh cổ động sau này, đều ẩn giấu nụ cười của người nông dân Việt hồn hậu nhìn vào cõi nhân sinh. Là cái kho tàng hóm hỉnh của một dân tộc biết cười trong mọi nỗi khó khăn... Khoa đã quyết chí dựng lại cái kho tàng ấy.