Chuyển hóa quan hệ đối ngoại thành nguồn lực phát triển

Đối thoại Hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 3 năm 2026 (FD 2026) mở ra nhiều cơ hội hợp tác cho Thành phố khi quy tụ hơn 500 đại biểu thuộc 35 đoàn địa phương và đối tác quốc tế đến từ gần 20 quốc gia.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Đối thoại Hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 3 năm 2026. (Ảnh: ĐÌNH THÌN)
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Đối thoại Hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 3 năm 2026. (Ảnh: ĐÌNH THÌN)

Sự kiện tiếp tục cho thấy vai trò ngày càng rõ của đối ngoại địa phương trong tổng thể đường lối đối ngoại quốc gia, không đơn thuần ở việc mở rộng quan hệ hữu nghị mà còn ở khả năng chuyển hóa các kết nối quốc tế thành hợp tác thực chất, hiệu quả, những sáng kiến khả thi, dự án cụ thể và nguồn lực trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố, đồng thời góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác.

Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định Thành phố Hồ Chí Minh luôn giữ vai trò trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế; đến năm 2030 có vị trí nổi trội ở khu vực Đông Nam Á. Cùng với đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đặt mục tiêu Thành phố nằm trong nhóm 100 thành phố toàn cầu, đáng sống, có hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thế giới. Tầm nhìn ấy phản ánh yêu cầu phát triển của Thành phố đã vượt khỏi phạm vi một trung tâm kinh tế lớn nhất nước, hướng tới vị thế của một đô thị có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Những mục tiêu đó không thể chỉ trông vào nguồn lực trong địa giới hành chính. Một thành phố không cần sở hữu mọi nguồn lực, nhưng phải có năng lực tiếp cận, kết nối và huy động các nguồn lực đó cho phát triển.

Thành phố Hồ Chí Minh đã có một nền tảng đáng kể khi thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác với 88 địa phương nước ngoài cùng gần 20 tổ chức, đối tác quốc tế, qua đó mở rộng không gian hợp tác và tạo thêm nhiều cơ hội phát triển. Nhưng có quan hệ chưa đồng nghĩa với có nguồn lực. Nếu quan hệ chỉ dừng ở những chuyến thăm, hoạt động giao lưu hay các khuôn khổ hợp tác chưa đi đến đầu ra cụ thể, “vốn quan hệ” vẫn chủ yếu ở dạng tiềm năng.

nguyen-loc-ha-va-pho-thi-truong-tokyo-3306.jpg
Đồng chí Nguyễn Lộc Hà (bên phải), Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chào xã giao các đại biểu. (Ảnh: ĐÌNH THÌN)

Yêu cầu đặt ra vì thế không còn chỉ là duy trì hữu nghị hay mở rộng số lượng đối tác, mà phải đi vào chiều sâu và hiệu quả. Từ duy trì kết nối sang đồng kiến tạo. Từ số cuộc gặp sang giá trị tạo ra sau mỗi quan hệ.

Chủ đề “Đối ngoại địa phương: Động lực cho đổi mới sáng tạo và tăng trưởng bền vững” cho thấy rõ bước chuyển ấy, từ thiết lập quan hệ sang khai thác giá trị của quan hệ.

FD 2026 đã cụ thể hóa định hướng này trong Tuyên bố với 8 nội dung thống nhất, cùng các tham luận và phiên thảo luận tại hội nghị. Trọng tâm tập trung vào những lĩnh vực hợp tác cụ thể: đô thị thông minh, cảng biển và logistics thế hệ mới, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, Trung tâm Tài chính quốc tế, ứng phó biến đổi khí hậu, y tế, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, đầu tư và thương mại… Đây đều là những cấu phần quan trọng trong mô hình phát triển mà Nghị quyết 09-NQ/TW đặt ra cho Thành phố Hồ Chí Minh.

Khi những bài toán phát triển được đưa trực tiếp vào chương trình nghị sự đối ngoại, giá trị của ngoại giao đô thị không còn nằm ở việc mở rộng mạng lưới. Mấu chốt là năng lực chuyển hóa, biến các kết nối quốc tế thành vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, thị trường, nguồn nhân lực chất lượng cao, kinh nghiệm quản trị và những dự án cụ thể cho Thành phố.

Muốn vậy, đối ngoại địa phương phải được triển khai có trọng tâm, trọng điểm; xác định rõ nhu cầu, rõ đối tác và rõ đầu ra. Số lượng quan hệ tạo nên độ rộng, nhưng chất lượng hợp tác mới quyết định giá trị. Một mạng lưới lớn chỉ phát huy hiệu quả khi từng đối tác được kết nối đúng với thế mạnh và nhu cầu phát triển của Thành phố.

Đối tác mạnh về logistics cần được gắn với bài toán cảng biển và chuỗi cung ứng; các trung tâm tài chính có kinh nghiệm có thể tham gia quá trình xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế; những địa phương, tổ chức có thế mạnh về bán dẫn, AI hay công nghệ sinh học cần được kết nối với viện, trường, doanh nghiệp và các khu công nghệ của Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối ngoại thực chất, xét đến cùng, là đặt đúng nhu cầu vào đúng đối tác, lựa chọn đúng cơ chế hợp tác và theo đuổi đến cùng kết quả. Điều đó đòi hỏi cách tiếp cận chủ động hơn trong quản trị mạng lưới đối tác, thay vì chỉ duy trì các mối quan hệ đã có.

Hành lang thể chế cũng đang mở rộng theo hướng đó. Nghị định số 227/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 của Chính phủ tạo thêm dư địa để địa phương chủ động tham gia các tổ chức, diễn đàn và mạng lưới hợp tác quốc tế; lựa chọn cơ chế phù hợp, thúc đẩy hợp tác và huy động nguồn lực trong khuôn khổ thống nhất của đối ngoại quốc gia.

Nhưng thể chế “mở khóa” và mạng lưới rộng vẫn chưa đủ. Khâu quyết định nằm ở năng lực thực thi sau kết nối. Số đoàn tham dự, số cuộc gặp hay số thỏa thuận được ký là những chỉ dấu cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả đối ngoại. Những “con số” đó chỉ thật sự “biết nói” khi đo được những kết nối nào đã thành dự án; bao nhiêu vốn, công nghệ, tri thức được đưa vào; doanh nghiệp Thành phố tiếp cận thêm thị trường nào; chuyên gia nào được thu hút; sáng kiến nào đã đi vào vận hành,…

tong-lanh-su-anh-tai-tphcm-9310.jpg
Các đại biểu giao lưu tại Đối thoại Hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 3 năm 2026. (Ảnh: ĐÌNH THÌN)

Khai thác và sử dụng hiệu quả ngoại lực vì thế là bài toán quản trị hiện đại. Mỗi quan hệ cần được gắn với một nhu cầu phát triển cụ thể, có đầu mối theo dõi, mục tiêu rõ và kết quả có thể đánh giá. Khi đó, mạng lưới đối ngoại mới thực sự chuyển từ lợi thế quan hệ thành năng lực phát triển.

Trong quá trình ấy, truyền thông đối ngoại cần được nhìn nhận như một phần của năng lực cạnh tranh đô thị, chứ không đơn thuần là hoạt động quảng bá. Nhà đầu tư, chuyên gia hay tổ chức quốc tế lựa chọn một địa điểm không chỉ dựa vào quy mô thị trường hoặc ưu đãi. Họ còn “thẩm định” chất lượng quản trị, mức độ ổn định và minh bạch của chính sách, khả năng thực hiện cam kết, chất lượng sống, mức độ cởi mở, bản sắc văn hóa và cả những tác động từ bối cảnh địa chính trị.

Vì vậy, bên cạnh tăng mức độ nhận diện Thành phố Hồ Chí Minh, truyền thông đối ngoại còn phải giúp đối tác quốc tế hiểu đúng, củng cố niềm tin và đi đến lựa chọn hợp tác. Điều đó đòi hỏi thông điệp nhất quán, thông tin đáng tin cậy, cách kể có chiến lược và sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, doanh nghiệp, cơ quan đối ngoại, báo chí-truyền thông cùng các chủ thể tham gia xây dựng hình ảnh Thành phố.

Niềm tin, xét cho cùng chính là “chìa khóa" của mọi sự hợp tác bền vững. Một đô thị được nhìn nhận là ổn định, đáng tin cậy, cởi mở và có năng lực thực thi sẽ có lợi thế hơn trong thu hút vốn, công nghệ, nhân tài và tham gia các mạng lưới hợp tác quốc tế. Uy tín của Thành phố Hồ Chí Minh vì thế vừa bồi đắp thương hiệu đô thị, vừa góp phần củng cố hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Một đô thị muốn có năng lực cạnh tranh toàn cầu cũng phải biết huy động nguồn lực ở quy mô toàn cầu. Đối ngoại địa phương vì thế không thể tách rời chiến lược phát triển của Thành phố, mà phải trở thành một cấu phần của chính chiến lược ấy.

Có thể bạn quan tâm