Chính sách tỷ giá thời hội nhập

Những tranh luận gần đây về giá trị thực của VND so với USD giữa một số nhà kinh tế trong và ngoài nước cho thấy chính sách tỷ giá đang được nhìn nhận theo nhiều quan điểm khá khác nhau. Vấn đề tỷ giá có lẽ nên được xem xét trong một khuôn khổ bao quát hơn, từ việc lựa chọn cơ chế đến sự điều hành chính sách tỷ giá theo hướng tạo môi trường để tỷ giá được hình thành dưới tác động cung - cầu nhưng phải phù hợp với các điều kiện đặc thù của nền kinh tế thời hội nhập.

Vai trò điều tiết trong cơ chế đã lựa chọn

Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, Việt Nam đã lựa chọn cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết. Chúng ta đã từ bỏ cơ chế tỷ giá neo mềm, theo đó, tỷ giá thị trường được giao dịch quanh tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước (NHNN) công bố và một biên độ được ấn định sẵn. Việc thay thế tỷ giá chính thức bằng tỷ giá bình quân liên ngân hàng cho thấy, lần đầu tiên tỷ giá do NHNN công bố phản ánh mức tỷ giá do thị trường quyết định. NHNN tham gia vào thị trường liên ngân hàng bằng hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường này. Hành động đó thực chất là được soi đường bởi một “tỷ giá mục tiêu”, giống như sự di chuyển của các đoàn quân, dù ở hướng này hay hướng khác thì đều hướng về mục tiêu của trận đánh. Tỷ giá mục tiêu là mức tỷ giá phản ánh chính xác các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của quốc gia, là mức tỷ giá mà tại đó các nguồn lực tài chính được phân bổ một cách hiệu quả nhất. Khả năng tính toán tỷ giá mục tiêu cho nền kinh tế và mức độ tin cậy của những tính toán này có ý nghĩa quyết định đối với vai trò điều tiết của NHNN trong phạm vi cơ chế tỷ giá đã lựa chọn.

Một số cách tiếp cận tỷ giá mục tiêu

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tỷ giá mục tiêu mà trong điều hành chính sách tỷ giá NHNN đã vận dụng. Chẳng hạn, có thể tiếp cận theo phương pháp ước lượng tỷ giá thực cân bằng dài hạn thông qua một mô hình mà nhà kinh tế Sebastian Edwards xây dựng năm 1988. NHNN đã áp dụng mô hình này để tính toán sự tác động vào tỷ giá của các biến số vĩ mô như : tiêu dùng chính phủ, luồng vốn ròng vào Việt Nam, tăng trưởng GDP thực, đầu tư...

Cách tiếp cận khác về tỷ giá mục tiêu là sử dụng mô hình kinh tế vĩ mô mở. Mô hình này giúp liên kết các khu vực kinh tế, thị trường tài chính, thị trường tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong một tổng thể nhằm đánh giá tác động của các chính sách đối với nền kinh tế. Đồng thời, mô hình cũng cho phép đánh giá tác động riêng biệt của chính sách tỷ giá đối với cán cân vãng lai, cán cân vốn.

Cũng có thể tiếp cận tỷ giá mục tiêu dựa trên mô hình cân bằng đối nội và cân bằng đối ngoại bởi vì mục tiêu hàng đầu của các chính sách kinh tế là tạo ra và duy trì trạng thái cân bằng cho nền kinh tế. Cùng với các chính sách tác động vào mức cầu nội địa thì chính sách tỷ giá có thể góp phần điều chỉnh nền kinh tế trở về trạng thái cân bằng. 

Một tiếp cận được coi là khá phổ biến đối với tỷ giá mục tiêu mà các cuộc tranh luận vừa qua đề cập đến là chỉ số tỷ giá hiệu lực thực (Real effective exchange rate indicator - REER). Chỉ số này cho phép đánh giá và dự báo tỷ giá thực theo hướng xem xét sức mua đối ngoại thực tế của đồng tiền quốc gia và sự tác động đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu của quốc gia đó. Chỉ số này dựa vào một năm cơ sở (base year) và một rổ đồng tiền của các đối tác chủ yếu về thương mại, vay nợ, đầu tư... Ứng với mỗi đồng tiền trong rổ thì tỷ giá với đồng Việt Nam sẽ được đem so sánh ở hai thời điểm năm cơ sở và hiện hành. Sau đó điều chỉnh thông qua lạm phát hai nước và quyền số thương mại. Chỉ số REER là tổng hợp thành của các chỉ số thành phần theo cách tính toán nêu trên.

Tỷ giá và sức cạnh tranh

Tác giả Phan Minh Ngọc (Đại học Kyushu, Nhật Bản) trong một bài báo gần đây cho rằng: “Mức trượt giá gộp năm 2005 so với 2000 của Việt Nam là 24,36%; và của Mỹ là 10,48%. Chênh lệch về lạm phát tính gộp của hai nước là 13,88%. Trong thời kỳ này tỷ giá danh nghĩa của VND/USD chỉ tăng có 9,6%. Theo công thức tính tỷ giá thực tế, tỷ giá thực tế của VND/USD đã giảm đi 4,28% vào cuối năm 2005 so với năm 2000. Nói cách khác, tiền đồng thực tế đã lên giá 4,28% so với USD trong vòng năm năm. Tỷ giá thực tế giảm (tức là tiền đồng tăng giá) thì hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn và hàng xuất khẩu trở nên đắt hơn một cách tương đối, do đó sẽ làm tăng thâm hụt thương mại, gây áp lực phá giá lên tiền đồng” (vneconomy ngày 27-7-2006).

Theo đánh giá của người viết bài này, đó là một nhận định thiếu nền tảng khi đặt nó trong cách tiếp cận vai trò của tỷ giá đối với sức cạnh tranh hàng xuất khẩu, hay rộng hơn là đối với cán cân thương mại. Phép tính giản đơn nêu trên khiến người đọc cho rằng giao lưu kinh tế đối ngoại của Việt Nam chỉ diễn ra với một quốc gia duy nhất là Mỹ. Trong thực tế, quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam là đa phương. Tính chất “đa phương” này là “linh hồn” trong hướng tiếp cận tỷ giá hiệu lực thực. Nếu chỉ dùng chênh lệch lạm phát để quyết định tỷ giá thì làm sao giải thích được từ năm 2001 đến nay đồng euro tăng giá 36,74% so với USD, không lẽ lạm phát của Mỹ cao hơn lạm phát của châu Âu đến 36,74%? Do đó, hoàn toàn sai lầm nếu REER chỉ được tính phiến diện với một đồng tiền duy nhất (USD), chỉ sử dụng lạm phát của hai nước (Việt Nam và Mỹ) cũng như bỏ qua phép so sánh tỷ giá danh nghĩa của tất cả các đồng tiền trong rổ ở hai thời điểm năm cơ sở và hiện hành.

So sánh tỷ giá của USD với một số ngoại tệ mạnh và một số đồng tiền châu Á được sử dụng trong “rổ tiền” tính REER ở hai thời điểm cuối năm 2000 và hiện nay cho thấy: USD đã có một chu kỳ mất giá mạnh so với hầu hết các đồng tiền trên thế giới. Chẳng hạn euro tăng 36,63%, bảng Anh tăng 27,56%, đô la Australia tăng 37,08%... so với USD. Đối với các đồng tiền châu Á: USD không đổi so với yen Nhật nhưng mất giá từ 8-10% so với các đồng tiền trong khu vực.

Sự lên giá mạnh mẽ của các đồng tiền so với USD và sự lên giá của USD so với tiền đồng xấp xỉ 10% trong năm năm qua đã làm cho tỷ giá danh nghĩa các đồng tiền trong rổ so với tiền đồng tăng mạnh khi so với năm cơ sở đã bù đắp cho mức chênh lệch lạm phát của Việt Nam và các đối tác. Nếu so sánh với năm cơ sở đã lựa chọn thì có thể khẳng định rằng hiện nay tiền đồng không lên giá so với năm cơ sở theo nghĩa là tỷ giá hiện nay bảo đảm cho khả năng cạnh tranh tương đối tối thiểu bằng với năm cơ sở. Đó là nói về mặt lý thuyết khi tiếp cận theo một hướng chuyên biệt về tỷ giá mục tiêu chứ thực ra, chính sách tỷ giá không hề là một phép tính số học giản đơn về một mức tỷ giá. Khó khăn hơn rất nhiều là một nghệ thuật điều hành chính sách tỷ giá phù hợp với đặc thù của một nền kinh tế chuyển đổi.

Điều hành chính sách tỷ giá thời hội nhập

Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, trên nền tảng cơ chế tỷ giá đã lựa chọn, việc điều hành chính sách tỷ giá phải theo hướng ngày càng linh hoạt hơn. NHNN đang thực thi lộ trình linh hoạt hóa tỷ giá kể từ năm 2004 qua nhiều bước. Trước hết là bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi suất (tháng 5-2004). Tiếp đến là thừa nhận tính tự do chuyển đổi của các ngoại tệ mạnh, cho phép chuyển đổi giữa các ngoại tệ không cần chứng từ, chính thức áp dụng quyền chọn ngoại tệ (tháng 11-2004). Các ngân hàng thương mại tiến hành thí điểm quyền chọn USD và tiền đồng trong điều kiện được tự do thỏa thuận phí quyền chọn (tháng 6-2005). Bỏ biên độ giao dịch USD tiền mặt, cho thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ mặt theo giá thỏa thuận (tháng 7-2006). Những bước đi này có dụng ý để thị trường tự điều chỉnh tỷ giá chừng nào mà Việt Nam chưa thể áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn (independent floating ). Rõ ràng trong điều hành chính sách tỷ giá, NHNN luôn coi trọng tính thị trường, đã cung ứng cho thị trường nhiều công cụ để xác lập tỷ giá cân bằng. Điều này chứng minh rằng NHNN không hề có ý định và cũng không thể “ém” tỷ giá như một số nhận định. Hiệu quả điều hành chính sách suy cho cùng là những hệ quả mà chính sách đó mang lại: thị trường ngoại hối ổn định, cán cân thương mại được cải thiện, dự trữ quốc tế ròng tăng mạnh... là những vấn đề cần được tham chiếu khi đánh giá chính sách tỷ giá. Có thể nói trong “dung dịch thả nổi có điều tiết” của cơ chế tỷ giá đã lựa chọn thì “nồng độ thả nổi” ngày càng tăng lên và vai trò “điều tiết” đích thực của NHNN chỉ là tạo điều kiện cho thị trường có được một kỳ vọng hợp lý.

TS. Trương Văn Phước,
Vụ trưởng Quản lý ngoại hối
– Ngân hàng nhà nước

Có thể bạn quan tâm