Chính phủ Mỹ biết rõ sự nguy hiểm của chất độc da cam

Khi viết cuốn sách "Chất độc da cam, dioxin và hệ quả"(*), Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn đã tham khảo hơn 300 tài liệu của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Mỹ, Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn trước đây, thư từ của các quan chức, nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới... và dựa trên những kết quả nghiên cứu của chính mình. Chúng tôi xin giới thiệu vài trích đoạn với bạn đọc.

Ngày 20-11-1961, Tổng thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm ủng hộ nồng nhiệt. Bất chấp sự phản đối của một số quan chức Mỹ ngay lúc đó, chiến dịch vẫn được thi hành.

Lời cảnh báo từ thập kỷ 60

Chiến dịch dùng hóa chất của Mỹ ở Việt Nam bị dư luận thế giới lên án gay gắt. Hầu như tất cả báo chí Châu Âu và ngay trong nước Mỹ, giới khoa học và trí thức thế giới cực lực phản đối hành động của Mỹ và đòi hỏi Chính phủ Mỹ phải ngưng ngay việc dùng hóa chất độc hại. Bertrand Russell, một nhà toán học danh tiếng trên thế giới, tố cáo thẳng thắn rằng quân đội Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam, qua việc sử dụng hóa chất có khả năng gây ra ung thư trên con người. Trong khi đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Robert W. Kastenmeier (bang Winsconsin) cảm thấy tình hình bất ổn, nên viết cho Tổng thống Kennedy, chất vấn việc dùng hóa chất và đặt vấn đề chế độ Diệm có xứng đáng để Mỹ phải hy sinh nguyên tắc đạo đức hay không.

Tháng 1-1966, Giáo sư John Edsall (Đại học Harvard) và một nhóm gồm 29 nhà khoa học ở thành phố Boston viết một thư phản đối việc dùng hóa chất để tiêu hủy mùa vụ của nông dân. Một năm sau, cố vấn khoa học cho tổng thống nhận được một thư phản kháng từ 5.000 nhà khoa học trên thế giới, trong đó có 17 người từng đoạt giải Nobel và 129 thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ, yêu cầu Tổng thống Lyndon B. Johnson chấm dứt ngay hành động hủy diệt môi sinh tại Việt Nam. Năm 1967, Hiệp hội vì Phát triển khoa học Mỹ, với sự thúc đẩy của Giáo sư E. W. Pfeiffer (Đại học Montana), khuyến cáo Bộ Quốc phòng Mỹ về hậu quả lâu dài cho người dân và môi sinh Việt Nam do chiến dịch Ranch Hand gây ra.

Mùa thu năm 1969, một nhóm khoa học gia công bố một nghiên cứu quan trọng cho thấy, chất 2,4,5T - một thành phần hóa học của chất da cam, ở nồng độ cao, có khả năng gây ra dị thai hay dị dạng bẩm sinh và chết thai trong bụng mẹ. Lúc đó, các bản tin từ báo chí Sài Gòn cũng cho biết, chất da cam là nguyên nhân gây ra nhiều trường hợp dị dạng bẩm sinh trong người dân. Ngày 15-4-1970, sau khi nghiên cứu này được công bố, Bộ Y tế, Giáo dục và Xã hội, Bộ Nội vụ và Bộ Nông nghiệp Mỹ ra lệnh ngưng ngay việc dùng chất da cam ở Mỹ.

Tháng 4-1970, Bộ Quốc phòng ra lệnh tạm thời đình chỉ chiến dịch Ranch Hand. Nhưng trên thực tế, các thuốc khai quang khác vẫn được tiếp tục rải xuống Việt Nam. Đến tháng 7.1971 thì chiến dịch hoàn toàn chấm dứt. Theo báo cáo chính thức của chiến dịch Ranch Hand, quân đội Mỹ đã thành công trong việc phá hủy khoảng 14% diện tích rừng Nam Việt Nam, kể cả 50% các rừng đước.

Ý định hạt nhân

Xét qua diễn biến chiến dịch Ranch Hand và những hậu quả của nó, người ta có thể nói cuộc chiến Việt Nam đã được giới quân sự Mỹ biến thành một bãi thí nghiệm khổng lồ cho hóa chất độc hại. Điều đáng nói ở đây là có dấu hiệu cho thấy, họ biết những hóa chất này có khả năng gây ra tác hại cho sức khoẻ của người dân. Trong lá thư gửi cho Thượng nghị sĩ Tom Daschle, đề ngày 9-9-1998, tiến sĩ James R. Clary thuộc cơ quan nghiên cứu vũ khí hóa học, trực thuộc Trung tâm Phát triển vũ trang không quân, viết như sau: "Lúc chúng tôi (các nhà khoa học quân đội) khởi xướng chương trình khai quang vào đầu thập niên 1960, chúng tôi biết tiềm năng độc hại của chất dioxin chứa trong thuốc diệt cỏ. Chúng tôi còn biết rằng công thức mà giới quân sự dùng có nồng độ cao hơn nồng độ mà giới dân sự dùng, vì chi phí rẻ và thời gian sản xuất ngắn. Tuy nhiên, vì hóa chất sẽ được dùng trên kẻ thù, không ai trong chúng tôi quan tâm thái quá. Chúng tôi không bao giờ nghĩ là quân đội chúng ta lại bị nhiễm độc chất. Và, nếu chúng tôi nghĩ đến tình huống này, chúng tôi mong muốn chính phủ chúng ta giúp đỡ các cựu chiến binh bị nhiễm độc chất". Tiết lộ trên cho thấy, giới quân sự Mỹ đã biết trước các hóa chất trong cuộc chiến Việt Nam là độc hại, nhưng, một cách kiêu ngạo, họ cho rằng vẫn có thể dùng trên "kẻ thù".

Cần phải nói thêm ở đây, là không những chỉ dùng các phương tiện hóa học ở Việt Nam, Mỹ còn có dự định dùng vũ khí hạt nhân trong thời chiến. Tài liệu của Viện nghiên cứu Nautilus (Berkeley, bang California) vừa mới tiết lộ vào năm 2003 cho thấy, vào năm 1966, trong lúc Mỹ đang leo thang chiến tranh ở Việt Nam, Lầu Năm góc đã từng suy nghĩ đến việc dùng vũ khí hạt nhân tấn công Việt Nam. Ông Freeman Dyson, cựu giáo sư vật lý tại Đại học Princeton, từng nghe các giới chức Lầu Năm góc nói đến việc dùng vũ khí hạt nhân để đối phương (tức Việt Nam) do dự. Không phải là người hiếu chiến và muốn ngăn chặn ý đồ điên rồ của giới quân sự, sau khi nghe tin này, ông Dyson và đồng nghiệp, Robert Gomer và S. Courtenay Wright (thuộc Đại học Chicago) và Steven Weinberg (Đại học Harvard), quyết định tiến hành một nghiên cứu về những hậu quả nếu Mỹ quyết định dùng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam. Công trình nghiên cứu này ước đoán rằng, Mỹ cần phải dùng đến 3.000 vũ khí hạt nhân hàng năm để phá hủy hệ thống giao thông đường mòn Hồ Chí Minh. Ngoài ra, nếu Mỹ quyết định như thế thì phía Việt Nam, với sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, có thể dùng vũ khí hạt nhân để phản công và hậu quả sẽ khủng khiếp cho quân đội Mỹ hơn là cho quân đội Việt Nam. Báo cáo của các nhà vật lý được đệ trình lên Bộ Quốc phòng, nhưng không ai biết ảnh hưởng của báo cáo đến chính sách của Mỹ ra sao. Lúc đó, Robert McNamara là Bộ trưởng Quốc phòng, và ông đã từng phản đối ý nghĩ dùng vũ khí hạt nhân trong cuộc chiến.

Trong y học, một khi một công thức thuốc được phát triển, người ta phải làm thử nghiệm về sự an toàn của thuốc trên thú vật (như chuột) cực kỳ kỹ càng trước khi đem ra dùng cho bệnh nhân. Ngay cả thử nghiệm trên chuột, các nhà khoa học cũng phải được phép của hội đồng y đức trước khi tiến hành nghiên cứu. Trong khi đó, quyết định dùng chất da cam chứa dioxin trong chiến tranh Việt Nam chỉ do một người quyết định (Tổng thống Kennedy) và nhận được sự ủng hộ của ông Ngô Đình Diệm. Người dân Việt Nam hoàn toàn không biết gì đến quyết định này. Vì thế, có thể nói rằng quyết định dùng chất da cam ở Việt Nam là một việc làm tàn nhẫn và vô nhân đạo. Nó thể hiện một thái độ ngạo mạn của người Mỹ coi thường mạng sống con người Việt Nam và môi trường Việt Nam. Nhận xét đó đã được giới khoa bảng Mỹ nêu lên từ năm 1966, họ cho đó là một hành động dã man, chỉ có hại cho người lính và thường dân.

Lịch sử sẽ ghi nhận việc Mỹ dùng chất da cam và dioxin ở Việt Nam (và nhiều hóa chất khác ở vùng Vịnh, vùng Balkans) như là những cuộc chiến tranh hóa học đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới.

---------------------------------

(*) NXB Trẻ ấn hành, tháng 7-2004.

* Tác giả Nguyễn Văn Tuấn là nhà nghiên cứu y học cấp cao về di truyền học và loãng xương tại Viện Nghiên cứu y khoa Garvan tại Sydney, Australia. Ông nguyên là giáo sư thuộc khoa Y, Đại học Wright State (bang Ohio, Mỹ), và giáo sư thỉnh giảng tại một số đại học ở Mỹ, Thụy Sĩ, Hồng Công và Thái-lan. Ông được đào tạo ở bậc tiến sĩ trong các ngành nội tiết học, di truyền dịch tễ học và thống kê sinh học. Những nghiên cứu về dioxin là mối quan tâm riêng của ông từ nhiều năm nay.

Có thể bạn quan tâm